Trong kỷ nguyên mới, bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đặt ra những yêu cầu mới trước sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình an ninh, nhất là tác động của không gian mạng, dữ liệu, các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống. Bài viết làm rõ vai trò của Công an nhân dân trong góp phần bảo vệ các điều kiện an ninh cần thiết để Đảng thực hiện hiệu quả vai trò lãnh đạo, cầm quyền; đồng thời xác định những yêu cầu trọng tâm về tham mưu chiến lược, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, bảo vệ không gian mạng và dữ liệu, bảo đảm an ninh, trật tự từ cơ sở và xây dựng lực lượng Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
I. MỞ ĐẦU
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đối với tổ chức và vận hành của hệ thống chính trị, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đổi mới nhận thức về phương thức lãnh đạo, vấn đề cầm quyền của Đảng ngày càng được xác định rõ hơn, gắn với năng lực hoạch định đường lối, tổ chức thực hiện, kiểm soát quyền lực, xây dựng đội ngũ cán bộ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
Bước vào kỷ nguyên mới, những biến động nhanh chóng của tình hình thế giới, sự đan xen giữa các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống, cùng tác động của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và không gian mạng đặt ra những yêu cầu mới đối với việc bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Các vấn đề về kinh tế, xã hội, công nghệ, thông tin và an ninh ngày càng có khả năng liên kết, lan truyền và chuyển hóa nhanh chóng. Vì vậy, bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng không chỉ là bảo vệ tổ chức, cán bộ, đảng viên hoặc đấu tranh với các hoạt động chống phá, mà quan trọng hơn là chủ động bảo vệ những điều kiện an ninh, chính trị, xã hội cần thiết để Đảng thực hiện hiệu quả vai trò lãnh đạo, cầm quyền.
Trong tổng thể đó, Công an nhân dân có vai trò đặc thù thông qua chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và cuộc sống bình yên của Nhân dân. Vì vậy, làm rõ vai trò của Công an nhân dân trong góp phần bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và xác định những yêu cầu đặt ra đối với lực lượng trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
II. NHẬN THỨC MỚI VỀ SỰ LÃNH ĐẠO, CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG VÀ YÊU CẦU BẢO VỆ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
1. Sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị
Trong tiến trình đổi mới, nhận thức của Đảng về phương thức lãnh đạo đối với hệ thống chính trị ngày càng được bổ sung, phát triển theo hướng rõ hơn về nội dung, phương thức, phạm vi, trách nhiệm và mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân. Hiến pháp năm 2013 xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”[1]. Từ quy định có tính nền tảng đó, có thể thấy sự lãnh đạo của Đảng không đồng nhất với hoạt động quản lý, điều hành của Nhà nước, cũng không phải là sự can thiệp trực tiếp vào mọi hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm đúng cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; đồng thời yêu cầu làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và gắn quyền lực với trách nhiệm. Nghị quyết cũng chỉ rõ yêu cầu khắc phục tình trạng bao biện, làm thay, áp đặt, lạm dụng quyền lực hoặc buông lỏng lãnh đạo. Do đó, xét về bản chất, sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện trước hết ở việc xác định phương hướng chính trị, đề ra đường lối, chủ trương và những định hướng lớn; lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện; định hướng công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ; kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị và Nhân dân trong quá trình thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Đây là quá trình tác động có tổ chức, có nguyên tắc của Đảng nhằm định hướng hoạt động của hệ thống chính trị và đời sống xã hội theo mục tiêu đã xác định.
Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục phát triển nhận thức này khi đặt yêu cầu “nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng”[2] trong mối quan hệ với “năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước”; đồng thời nhấn mạnh việc gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Như vậy, trong kỷ nguyên mới, yêu cầu đối với sự lãnh đạo của Đảng không chỉ dừng ở việc ban hành đúng đường lối, chủ trương, mà ngày càng nhấn mạnh năng lực tổ chức thực hiện, khả năng chuyển hóa chủ trương thành thể chế, chính sách và kết quả thực tiễn. Đây cũng là điểm có ý nghĩa trực tiếp đối với nhận thức về bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng: bảo vệ không chỉ là bảo vệ tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trước các hành vi xâm phạm, mà sâu xa hơn là bảo vệ những điều kiện chính trị, pháp lý, tổ chức, xã hội và an ninh cần thiết để sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện đúng nguyên tắc, đúng thẩm quyền, có hiệu lực và hiệu quả.
2. Cầm quyền của Đảng và quan hệ giữa lãnh đạo với cầm quyền
“Lãnh đạo” và “cầm quyền” có quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất. Nếu lãnh đạo nhấn mạnh vai trò định hướng, dẫn dắt chính trị và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, thì cầm quyền nhấn mạnh năng lực của Đảng trong việc thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua hệ thống chính trị, trước hết là thông qua Nhà nước, để biến đường lối, chủ trương thành thể chế, chính sách, quyết định và tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Nhận thức này đã được thể hiện rõ hơn trong quá trình đổi mới tư duy về phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Nghị quyết số 28-NQ/TW xác định mục tiêu tạo chuyển biến thực chất trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; nâng cao năng lực tổ chức thực hiện đường lối, nhất là thể chế hóa, cụ thể hóa thành luật và các văn bản dưới luật; đồng thời gắn với kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Điểm cần nhấn mạnh là “cầm quyền” không nên được hiểu theo nghĩa Đảng trực tiếp thực hiện quyền quản lý nhà nước hoặc thay thế chức năng của Nhà nước. Ngược lại, năng lực cầm quyền được thể hiện ở khả năng lãnh đạo đúng, xác định đúng những vấn đề chiến lược, tổ chức và kiểm soát quá trình thể chế hóa, lãnh đạo hệ thống chính trị thực hiện đường lối, đồng thời bảo đảm quyền lực được thực thi đúng nguyên tắc, đúng thẩm quyền và có hiệu quả. Chính vì vậy, phương thức cầm quyền phải gắn với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình, kỷ luật, kỷ cương và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
Văn kiện Đại hội XIV đặt “nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng” cùng với yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả; tăng cường kiểm soát quyền lực; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, Đại hội XIV xác định nhiệm vụ “đổi mới đồng bộ phương thức và nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện để tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nhất là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”[3]. Từ góc độ đó, có thể hiểu năng lực cầm quyền được cấu thành bởi nhiều yếu tố gắn bó với nhau: năng lực hoạch định đường lối và định hướng phát triển; năng lực thể chế hóa và tổ chức thực hiện; năng lực xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; năng lực lựa chọn, bố trí và kiểm soát đội ngũ cán bộ; năng lực kiểm soát quyền lực; năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện; năng lực nhận diện và xử lý những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn. Khi một trong những yếu tố này suy giảm, hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền có thể bị ảnh hưởng. Đây cũng là cơ sở để xác định đúng đối tượng cần bảo vệ dưới góc độ an ninh. Đối tượng bảo vệ không chỉ là tổ chức, cán bộ hay các hoạt động của Đảng, mà rộng hơn là các điều kiện an ninh cần thiết bảo đảm Đảng thực hiện đúng vai trò lãnh đạo, cầm quyền, đồng thời bảo đảm hệ thống chính trị vận hành ổn định, đúng nguyên tắc, pháp luật và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
3. Những yếu tố bảo đảm năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Từ Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 28-NQ/TW, có thể nhận diện một số nhóm yếu tố cơ bản bảo đảm năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới.
Một là, sự đúng đắn của đường lối, chủ trương và năng lực dự báo, hoạch định chiến lược. Trong môi trường phát triển có tốc độ biến đổi nhanh, những vấn đề mới xuất hiện liên tục, năng lực nhận diện đúng xu thế, dự báo đúng tình hình và kịp thời điều chỉnh chủ trương có ý nghĩa ngày càng lớn. Nghị quyết số 28-NQ/TW yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành chủ trương, đường lối theo hướng đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, có tính dự báo và bám sát thực tiễn.
Hai là, năng lực thể chế hóa và tổ chức thực hiện. Một chủ trương đúng chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được thể chế hóa phù hợp, phân định rõ trách nhiệm, bảo đảm nguồn lực và được tổ chức thực hiện nghiêm túc. Vì vậy, khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn, giữa quyết định và khả năng thực hiện là một trong những vấn đề có thể tác động trực tiếp đến hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền. Nghị quyết số 28-NQ/TW đặc biệt nhấn mạnh nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối của Đảng và tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện.
Ba là, chất lượng của tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và người đứng đầu. Đại hội XIV tiếp tục đặt trọng tâm vào xây dựng, chỉnh đốn Đảng; củng cố tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở, người đứng đầu; tăng cường kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Bốn là, kiểm soát quyền lực, kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm trong thực thi quyền lực. Đây không chỉ là yêu cầu đối với hoạt động của Nhà nước mà còn là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Nghị quyết số 28-NQ/TW đặt yêu cầu quyền lực đi đôi với trách nhiệm, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phân cấp, phân quyền và kiểm soát quyền lực; đồng thời phải khắc phục cả hai khuynh hướng bao biện, làm thay và buông lỏng lãnh đạo.
Năm là, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân”, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân. Vì vậy, sự ổn định chính trị và hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền không thể tách rời sự đồng thuận xã hội, niềm tin của Nhân dân, việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân và khả năng giải quyết có hiệu quả những vấn đề nảy sinh từ cơ sở.
Sáu là, năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn và tự hoàn thiện của Đảng. Đây là điểm Đại hội XIV nhấn mạnh rõ hơn khi đặt yêu cầu “nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện” gắn với tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền. Theo đó, bảo đảm năng lực cầm quyền không phải là trạng thái bất biến mà là một quá trình thường xuyên nhận diện hạn chế, sửa chữa khuyết điểm, kiểm soát quyền lực, đổi mới phương thức lãnh đạo và thích ứng với những biến đổi của thực tiễn.
4. Yêu cầu bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng dưới góc độ an ninh
Từ những nhận thức trên, cần xác định lại nội hàm “bảo vệ sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng” theo hướng chặt chẽ hơn. Nếu chỉ đồng nhất bảo vệ với đấu tranh chống các hoạt động chống phá Đảng thì phạm vi của khái niệm sẽ quá hẹp; ngược lại, nếu đồng nhất bảo vệ với toàn bộ hoạt động xây dựng Đảng, quản lý nhà nước và quản trị xã hội thì khái niệm sẽ quá rộng, không xác định được ranh giới chức năng của lực lượng Công an nhân dân.
Dưới góc độ an ninh, bảo vệ sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng cần được tiếp cận từ việc bảo vệ các điều kiện an ninh cần thiết để Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền; chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý những nguy cơ xâm phạm, phá hoại, làm suy yếu hoặc cản trở việc thực hiện vai trò đó theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của lực lượng Công an nhân dân. Cách tiếp cận này đồng thời giải quyết được một vấn đề lý luận quan trọng: bảo vệ không đồng nghĩa với “che chắn” mọi vấn đề nội bộ. Trong một số trường hợp, chính những hạn chế trong xây dựng Đảng, cán bộ, tổ chức, kiểm soát quyền lực, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái hoặc mất đoàn kết có thể trở thành yếu tố làm suy giảm năng lực lãnh đạo, cầm quyền và bị các nguy cơ bên ngoài lợi dụng, khuếch đại. Vì vậy, bảo vệ phải gắn với xây dựng, phòng ngừa với đấu tranh, phát hiện nguy cơ với xử lý nguyên nhân và hậu quả. Quan điểm này phù hợp với yêu cầu của Đại hội XIV về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời phù hợp với yêu cầu nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện của Đảng.
Đặt trong môi trường an ninh mới, yêu cầu này càng có ý nghĩa. Các nguy cơ tác động đến sự ổn định chính trị không còn chỉ xuất hiện dưới hình thức trực tiếp, đơn tuyến mà có thể đan xen giữa chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, công nghệ, thông tin, không gian mạng và các vấn đề an ninh phi truyền thống. Văn kiện Đại hội XIV đồng thời đặt yêu cầu phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia gắn với bảo đảm an ninh, an toàn; xây dựng xã hội số, công dân số và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động quản lý, điều hành. Điều đó làm xuất hiện cả những phương thức tác động mới đối với môi trường chính trị - xã hội và những yêu cầu mới trong bảo vệ an ninh.
Như vậy, bảo vệ sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới không chỉ là bảo vệ Đảng trước các hành vi xâm phạm từ bên ngoài, mà trước hết phải bảo đảm một môi trường an ninh ổn định, an toàn và lành mạnh để Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền; đồng thời chủ động nhận diện, phòng ngừa và xử lý những yếu tố có khả năng làm suy yếu các điều kiện bảo đảm năng lực lãnh đạo, cầm quyền.
IV. VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN TRONG BẢO VỆ SỰ LÃNH ĐẠO VÀ VAI TRÒ CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG
Bảo vệ sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng là vấn đề có phạm vi rộng, liên quan đến toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị và nhiều chủ thể trong xã hội. Trong đó, lực lượng Công an nhân dân có vị trí đặc thù bởi được giao chức năng bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Vì vậy, vai trò của Công an nhân dân trong bảo vệ sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng cần được xác định từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng, không đồng nhất với vai trò lãnh đạo, quản lý của các chủ thể trong hệ thống chính trị.
Một là, tham mưu chiến lược, cung cấp cơ sở an ninh cho hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng
Một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là khả năng nhận diện đúng tình hình, dự báo chính xác những vấn đề có thể tác động đến đất nước, từ đó đề ra chủ trương, chính sách phù hợp và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Trong điều kiện các vấn đề an ninh ngày càng đan xen giữa chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ, dữ liệu và không gian mạng, yêu cầu này càng trở nên rõ nét.
Với chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, lực lượng Công an nhân dân có vai trò cung cấp thông tin, đánh giá tình hình, nhận diện nguy cơ, dự báo các vấn đề có thể tác động đến ổn định chính trị - xã hội và kiến nghị phương án xử lý. Vai trò này không chỉ thể hiện ở việc tham mưu xử lý những vụ việc đã phát sinh, mà quan trọng hơn là góp phần nhận diện sớm các nguy cơ, điểm nghẽn và những yếu tố có khả năng tích tụ thành vấn đề an ninh. Theo đó, công tác tham mưu cần ngày càng chuyển mạnh sang chủ động nghiên cứu, dự báo, cảnh báo sớm, nhất là đối với những vấn đề có tính liên ngành, liên vùng, xuyên quốc gia và tác động trên không gian mạng. Chất lượng tham mưu về an ninh phải trở thành một trong những cơ sở để các chủ thể có thẩm quyền xem xét, hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, qua đó góp phần tạo lập môi trường ổn định để Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền.
Hai là, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, góp phần bảo đảm những điều kiện tổ chức và cán bộ cho năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng không chỉ phụ thuộc vào tính đúng đắn của đường lối mà còn gắn trực tiếp với chất lượng tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, sự đoàn kết, thống nhất và việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; đồng thời tăng cường tự đổi mới, tự hoàn thiện và khắc phục những yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Trong quá trình đó, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ có vai trò trực tiếp trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý những yếu tố có nguy cơ làm suy giảm sự trong sạch, thống nhất và ổn định của tổ chức đảng, hệ thống chính trị; bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ cán bộ, bảo vệ an toàn các cơ quan, tổ chức và các hoạt động chính trị quan trọng theo chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân.
Điểm cần nhấn mạnh là bảo vệ an ninh chính trị nội bộ không nên được tiếp cận thuần túy theo hướng “bảo vệ đối tượng”, mà phải gắn với bảo vệ sự trong sạch, thống nhất, kỷ luật và khả năng thực hiện chức năng của tổ chức. Trong phạm vi chức năng của mình, Công an nhân dân cần chủ động phát hiện các nguy cơ từ bên ngoài xâm nhập, tác động vào nội bộ; đồng thời nhận diện những sơ hở, yếu kém có thể bị lợi dụng để làm phát sinh vấn đề an ninh. Qua đó, góp phần tạo môi trường an ninh cần thiết để các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện đúng chức năng, quyền hạn và trách nhiệm được giao.
Ba là, chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hoạt động xâm phạm, phá hoại hoặc cản trở việc thực hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng luôn chịu tác động từ nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài. Trong đó có những hoạt động trực tiếp nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, làm suy giảm niềm tin xã hội, kích động bất ổn chính trị - xã hội hoặc lợi dụng những hạn chế, bất cập trong thực tiễn để tạo ra các vấn đề an ninh.
Với chức năng bảo vệ an ninh quốc gia, Công an nhân dân có vai trò chủ động nắm tình hình, nhận diện phương thức, thủ đoạn và các yếu tố có khả năng tác động đến an ninh chính trị, từ đó thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo quy định của pháp luật. Trọng tâm không chỉ là xử lý khi hoạt động chống phá đã hình thành mà phải chú trọng phòng ngừa từ sớm, từ xa, xử lý các điều kiện làm phát sinh nguy cơ và không để những vấn đề nhỏ tích tụ thành vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự. Trong thực hiện vai trò này, Công an nhân dân phải bảo đảm sự phân định rõ giữa hoạt động bảo vệ an ninh và hoạt động lãnh đạo, quản lý của các chủ thể có thẩm quyền. Lực lượng Công an không thay thế các chủ thể trong việc quyết định đường lối, chủ trương hoặc giải quyết những vấn đề thuộc chức năng quản lý nhà nước, mà thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được pháp luật quy định.
Bốn là, bảo đảm an ninh, trật tự, góp phần củng cố nền tảng xã hội của sự lãnh đạo và cầm quyền
Sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng được thực hiện trong mối quan hệ với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân. Vì vậy, ổn định chính trị - xã hội, trật tự, kỷ cương và sự an toàn của đời sống xã hội là những điều kiện quan trọng để hệ thống chính trị vận hành thông suốt và thực hiện có hiệu quả chức năng của mình. Lực lượng Công an nhân dân có vai trò trực tiếp trong bảo đảm an ninh, trật tự, phòng ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm, vi phạm pháp luật; giải quyết những vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự ngay từ cơ sở. Thực hiện tốt nhiệm vụ này góp phần duy trì môi trường xã hội ổn định, bảo vệ cuộc sống bình yên của Nhân dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, qua đó củng cố những điều kiện xã hội cần thiết cho hoạt động của hệ thống chính trị. Đặc biệt, công tác bảo đảm an ninh, trật tự ở cơ sở cần được đặt trong mối quan hệ với việc củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Khi các vấn đề về an ninh, trật tự được phát hiện và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, hạn chế không để phát sinh điểm nóng, kéo dài hoặc tích tụ thành mâu thuẫn xã hội phức tạp, lực lượng Công an nhân dân góp phần củng cố niềm tin, sự đồng thuận và khả năng huy động sức mạnh của Nhân dân trong bảo vệ an ninh, trật tự.
Năm là, bảo vệ không gian mạng, dữ liệu và các nền tảng số, góp phần bảo đảm môi trường an ninh cho thực hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền trong thời đại số
Quá trình chuyển đổi số làm thay đổi phương thức hoạt động của Đảng, Nhà nước, xã hội và các tổ chức chính trị. Đồng thời, không gian mạng trở thành môi trường quan trọng để cung cấp thông tin, giao tiếp xã hội, cung cấp dịch vụ công và tổ chức nhiều hoạt động quản trị. Những nguy cơ tác động đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội vì vậy cũng có thể được hình thành, lan truyền và khuếch đại trên môi trường số với tốc độ nhanh và phạm vi rộng. Trong bối cảnh đó, bảo vệ không gian mạng, dữ liệu và các hệ thống thông tin quan trọng có ý nghĩa ngày càng lớn đối với bảo đảm môi trường an ninh cho hoạt động của hệ thống chính trị. Công an nhân dân có vai trò chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đồng thời phối hợp bảo vệ các hệ thống thông tin, dữ liệu và hạ tầng có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh quốc gia. Cần tiếp cận vấn đề này theo hướng không chỉ xử lý thông tin xấu độc hoặc các hành vi vi phạm trên mạng, mà còn nâng cao năng lực bảo vệ dữ liệu, nhận diện sớm các chiến dịch tác động, thao túng thông tin, tấn công mạng và các phương thức lợi dụng công nghệ mới. Qua đó, góp phần bảo đảm môi trường số an toàn, ổn định cho hoạt động của Nhà nước, xã hội và các chủ thể trong hệ thống chính trị.
Sáu là, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và tội phạm theo chức năng, góp phần bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và hiệu lực thực thi quyền lực
Năng lực cầm quyền không chỉ được thể hiện ở việc đề ra chủ trương mà còn ở khả năng tổ chức thực hiện, kiểm soát quyền lực và bảo đảm kỷ luật, kỷ cương. Những biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, vi phạm pháp luật nếu không được phát hiện, xử lý có thể làm suy giảm hiệu lực thực thi chính sách, gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước và Nhân dân, đồng thời tạo ra những sơ hở để các vấn đề xã hội bị lợi dụng và chuyển hóa thành vấn đề an ninh. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Công an nhân dân có vai trò phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm tham nhũng, kinh tế, chức vụ và các hành vi vi phạm pháp luật có liên quan; phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Việc thực hiện nghiêm minh, đúng pháp luật các nhiệm vụ này góp phần bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước, tổ chức và Nhân dân, qua đó góp phần củng cố hiệu lực thực thi quyền lực trong hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, cần tránh đồng nhất nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với toàn bộ nội dung bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đây là một trong những phương diện bảo đảm, trong đó Công an nhân dân thực hiện phần việc thuộc chức năng, thẩm quyền của mình và phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Bảy là, xây dựng thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh của Nhân dân trong bảo vệ môi trường chính trị - xã hội ổn định
Bảo vệ sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng về bản chất không thể tách rời việc bảo đảm môi trường xã hội ổn định và phát huy vai trò của Nhân dân. Nhân dân vừa là chủ thể của quyền lực nhà nước, vừa là lực lượng quan trọng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự. Vì vậy, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc là một phương diện quan trọng trong tạo lập nền tảng xã hội cho công tác bảo vệ an ninh quốc gia.
Công an nhân dân cần tiếp tục đổi mới phương thức vận động quần chúng, phát huy vai trò của Công an cấp cơ sở, nâng cao khả năng tiếp nhận và giải quyết kịp thời các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống Nhân dân; đồng thời phát huy các mô hình tự quản, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và các cơ chế phối hợp giữa lực lượng Công an với cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức trong hệ thống chính trị. Điều quan trọng là phải đặt việc xây dựng thế trận an ninh nhân dân trong quan hệ hai chiều giữa bảo vệ an ninh và phục vụ Nhân dân. Khi quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân được tôn trọng, các vấn đề chính đáng được tiếp nhận và giải quyết đúng quy định, những nguy cơ phát sinh từ cơ sở được nhận diện và xử lý kịp thời, sức mạnh xã hội tham gia bảo vệ an ninh, trật tự sẽ được củng cố. Đây là điều kiện quan trọng góp phần tạo dựng môi trường ổn định để hệ thống chính trị thực hiện có hiệu quả chức năng của mình.
Từ những phương diện trên có thể thấy, vai trò của lực lượng Công an nhân dân trong bảo vệ sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng không phải là một lĩnh vực hoạt động độc lập hay một nhiệm vụ đứng ngoài hệ thống chức năng của lực lượng. Vai trò đó được thực hiện thông qua việc Công an nhân dân thực hiện tốt chức năng bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật; đồng thời chủ động nhận diện, phòng ngừa và xử lý những nguy cơ có khả năng làm suy yếu các điều kiện an ninh cần thiết cho Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền.
Vấn đề đặt ra trong giai đoạn mới là các phương thức tác động đến an ninh ngày càng nhanh, phức tạp và liên kết giữa nhiều lĩnh vực. Do đó, cùng với việc tiếp tục thực hiện tốt các nhiệm vụ truyền thống, lực lượng Công an nhân dân cần đổi mới phương thức công tác theo hướng chủ động hơn, dự báo sớm hơn, xử lý từ cơ sở, tăng cường năng lực bảo vệ trên không gian mạng và nâng cao khả năng nhận diện, quản trị các nguy cơ an ninh liên ngành. Đây là cơ sở để tiếp tục xác định những định hướng, giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới.
IV. YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÔNG AN NHÂN DÂN TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Từ nhận thức về sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và những vấn đề mới đặt ra đối với việc bảo vệ các điều kiện bảo đảm vai trò đó trong kỷ nguyên mới, yêu cầu đối với Công an nhân dân không chỉ là tiếp tục thực hiện tốt các nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, mà còn phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương thức công tác, nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa và kiểm soát các nguy cơ từ sớm, từ xa, từ cơ sở. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, cần tập trung thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
1. Nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược, dự báo và nhận diện sớm các nguy cơ tác động đến sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Tham mưu về an ninh không chỉ nhằm xử lý những vấn đề đã phát sinh mà phải hướng mạnh vào nhận diện xu hướng, dự báo nguy cơ và đề xuất các giải pháp phòng ngừa trước khi nguy cơ phát triển thành vấn đề phức tạp. Theo đó, công tác nắm tình hình cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu theo vụ việc, đối tượng, địa bàn sang nhận diện đầy đủ hơn các xu hướng vận động, các mối liên hệ và khả năng tác động, chuyển hóa giữa các nguy cơ. Cần tăng cường nghiên cứu những vấn đề có khả năng tác động đến ổn định chính trị - xã hội, hoạt động của hệ thống chính trị, quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, an ninh chính trị nội bộ, không gian thông tin và không gian mạng. Đặc biệt, phải chú trọng phát hiện những yếu tố ban đầu tuy chưa biểu hiện trực tiếp thành vấn đề an ninh nhưng có khả năng tích tụ, lan truyền hoặc bị lợi dụng để tác động đến các điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Chất lượng tham mưu chiến lược vì vậy cần được đánh giá không chỉ ở khả năng phản ứng trước tình huống mà ngày càng phải thể hiện ở khả năng cảnh báo sớm, chỉ ra nguy cơ, dự báo khả năng chuyển hóa và đề xuất phương án kiểm soát phù hợp.
Để đáp ứng yêu cầu đó, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo và các phương pháp phân tích hiện đại trong thu thập, kết nối, xử lý và phân tích thông tin; nâng cao năng lực phân tích dữ liệu và xây dựng các phương thức cảnh báo sớm. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu có tư duy chiến lược, kiến thức liên ngành và khả năng nhìn nhận các vấn đề an ninh trong mối quan hệ với kinh tế, xã hội, công nghệ, đối ngoại và các lĩnh vực khác. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực chủ động phòng ngừa và góp phần bảo vệ vững chắc các điều kiện an ninh cho sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
2. Gắn bảo vệ an ninh chính trị nội bộ với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và kiểm soát quyền lực
Bảo vệ an ninh chính trị nội bộ có quan hệ trực tiếp với yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh và kiểm soát quyền lực. Những nguy cơ tác động đến sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng không chỉ xuất phát từ các hoạt động chống phá từ bên ngoài mà còn có thể nảy sinh từ những hạn chế, sơ hở trong tổ chức, quản lý, công tác cán bộ, thực thi quyền lực, kỷ luật, kỷ cương và giải quyết những vấn đề phát sinh trong nội bộ. Vì vậy, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ cần được đặt trong yêu cầu phòng ngừa, phát hiện và xử lý từ sớm những yếu tố có khả năng làm suy giảm sự đoàn kết, thống nhất, hiệu lực tổ chức thực hiện và uy tín của hệ thống chính trị. Theo đó, Công an nhân dân cần tiếp tục đổi mới công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ theo hướng chủ động hơn, sâu hơn và gắn chặt với việc nhận diện các nguy cơ. Không chỉ tập trung phát hiện, đấu tranh với các hoạt động xâm phạm an ninh chính trị nội bộ, cần chú trọng nhận diện những sơ hở, thiếu sót trong tổ chức, quản lý, công tác cán bộ và thực thi quyền lực có khả năng bị lợi dụng hoặc chuyển hóa thành vấn đề an ninh. Qua đó, cung cấp thông tin, tham mưu và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền trong phòng ngừa, xử lý những vấn đề phát sinh, góp phần giữ vững sự đoàn kết, thống nhất và kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống chính trị.
Việc gắn bảo vệ an ninh chính trị nội bộ với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và kiểm soát quyền lực phải đồng thời bảo đảm phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể. Công an nhân dân không thay thế chức năng lãnh đạo của Đảng, chức năng kiểm tra, giám sát của các cơ quan Đảng hoặc chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền. Vai trò của Công an nhân dân là nắm tình hình, phát hiện nguy cơ, cung cấp thông tin, tham mưu, bảo vệ an ninh và điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật theo thẩm quyền; đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng trong những vấn đề có liên quan. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm phát huy đúng vai trò của Công an nhân dân, đồng thời bảo đảm việc bảo vệ an ninh phục vụ trực tiếp và hiệu quả cho quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiểm soát quyền lực và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền.
3. Đổi mới phương thức bảo vệ an ninh trong không gian mạng, dữ liệu và các môi trường xã hội mới
Công an nhân dân cần tiếp tục nâng cao năng lực bảo vệ an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh thông tin và các hệ thống thông tin quan trọng; chủ động nhận diện những phương thức lợi dụng công nghệ mới để tác động đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, cần nâng cao năng lực phân tích dòng thông tin, nhận diện các phương thức tác động có tổ chức, các hoạt động phát tán thông tin sai lệch, gây nhiễu hoặc kích thích những vấn đề xã hội phức tạp; qua đó chủ động tham mưu các biện pháp phòng ngừa, xử lý phù hợp.
Một yêu cầu quan trọng là từng bước hình thành phương thức bảo vệ an ninh dựa trên dữ liệu. Dữ liệu không chỉ là đối tượng cần bảo vệ mà còn là nguồn lực phục vụ nắm tình hình, dự báo và phòng ngừa. Do đó, cần tăng cường kết nối, chia sẻ và phân tích dữ liệu trong phạm vi pháp luật cho phép; kết hợp thông tin truyền thống với dữ liệu số; xây dựng khả năng phát hiện những dấu hiệu bất thường và nhận diện sớm nguy cơ. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa Công an nhân dân với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp công nghệ và các chủ thể liên quan trong bảo vệ không gian mạng và dữ liệu. Mục tiêu không chỉ là xử lý các hành vi vi phạm mà từng bước tạo lập môi trường số an toàn, ổn định, có khả năng thích ứng và chống chịu trước các nguy cơ an ninh mới.
4. Tăng cường bảo đảm an ninh, trật tự từ cơ sở, củng cố nền tảng xã hội của sự lãnh đạo, cầm quyền
Sự ổn định chính trị - xã hội và mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Trong đó, cơ sở là nơi trực tiếp diễn ra các quan hệ xã hội, đồng thời cũng là nơi sớm xuất hiện những mâu thuẫn, tranh chấp, bức xúc và vấn đề có khả năng tác động đến an ninh, trật tự. Nếu không được phát hiện, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, những vấn đề này có thể tích tụ, lan rộng hoặc bị lợi dụng để hình thành những vấn đề phức tạp hơn. Vì vậy, tăng cường bảo đảm an ninh, trật tự từ cơ sở phải được xác định là yêu cầu quan trọng trong bảo vệ các điều kiện xã hội của sự lãnh đạo, cầm quyền. Theo đó, cần tiếp tục xây dựng Công an cấp cơ sở thực sự gần dân, sát dân, nắm chắc địa bàn, dân cư và những vấn đề phát sinh trong đời sống Nhân dân. Phương thức công tác cần chuyển mạnh từ xử lý vụ việc sang chủ động quản lý, phòng ngừa và giải quyết nguyên nhân của vấn đề; từ nắm tình hình đơn lẻ sang nắm tình hình tổng hợp về địa bàn, dân cư, các nhóm xã hội và những yếu tố có khả năng phát sinh phức tạp. Cần chú trọng phát hiện sớm những mâu thuẫn, tranh chấp, bức xúc chính đáng của Nhân dân để tham mưu giải quyết ngay từ cơ sở, không để tích tụ thành điểm nóng hoặc bị lợi dụng, kích động.
Cần nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phát huy vai trò của chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức tự quản trong bảo đảm an ninh, trật tự. Việc giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các vấn đề chính đáng của Nhân dân cần được coi là một nội dung quan trọng của phòng ngừa xã hội. Qua đó, bảo đảm an ninh, trật tự không chỉ nhằm phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật mà còn góp phần củng cố ổn định xã hội, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân và tạo nền tảng xã hội thuận lợi cho hoạt động của hệ thống chính trị.
5. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh trong điều kiện mới, đồng thời tăng cường tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận
Để thực hiện tốt vai trò góp phần bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, trước hết Công an nhân dân phải có đủ năng lực thực hiện tốt chức năng bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật. Vì vậy, xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là yêu cầu có tính nền tảng, quyết định chất lượng thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện mới. Trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực chuyên môn và khả năng thích ứng với môi trường công tác ngày càng phức tạp, nhất là môi trường số. Cần chú trọng phát triển năng lực nghiên cứu, phân tích, dự báo, tham mưu chiến lược và xử lý các vấn đề an ninh liên ngành; hình thành đội ngũ cán bộ có khả năng nhận diện những vấn đề mới ở giao thoa giữa an ninh với kinh tế, xã hội, công nghệ, đối ngoại và các lĩnh vực khác. Đồng thời, tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, tổng kết thực tiễn, xây dựng cơ chế để tri thức, kinh nghiệm thực tiễn được chuyển hóa thành phương pháp, quy trình và năng lực công tác của lực lượng.
Cần coi trọng tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận về bảo vệ an ninh quốc gia trong điều kiện Đảng tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền. Nghiên cứu sâu hơn mối quan hệ giữa bảo vệ an ninh quốc gia với bảo đảm các điều kiện thực hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền; giữa phòng ngừa nguy cơ an ninh với xây dựng, chỉnh đốn Đảng; giữa bảo vệ an ninh chính trị nội bộ với kiểm soát quyền lực; giữa bảo vệ an ninh truyền thống với an ninh mạng, an ninh dữ liệu và các dạng thức an ninh mới.
Nhìn tổng thể, bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới đòi hỏi Công an nhân dân phải tiếp tục thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ đã được xác định, đồng thời chuyển mạnh từ tư duy xử lý sang chủ động phòng ngừa, từ ứng phó sang dự báo, từ xử lý từng vụ việc sang nhận diện và kiểm soát nguy cơ. Trọng tâm không phải mở rộng chức năng của Công an nhân dân sang những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của các chủ thể khác, mà là nâng cao chất lượng thực hiện chức năng bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật. Qua đó, góp phần bảo vệ vững chắc những điều kiện an ninh cần thiết để hệ thống chính trị vận hành ổn định, thông suốt và Đảng thực hiện hiệu quả vai trò lãnh đạo, cầm quyền trong kỷ nguyên mới.
V. KẾT LUẬN
Bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới cần được nhận thức trong tổng thể bảo vệ những điều kiện chính trị, pháp lý, tổ chức, xã hội và an ninh cần thiết để Đảng thực hiện hiệu quả vai trò lãnh đạo, cầm quyền. Trong tổng thể đó, Công an nhân dân có vai trò đặc thù thông qua chức năng bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật.
Trước sự biến đổi nhanh chóng của môi trường an ninh, Công an nhân dân cần tiếp tục đổi mới phương thức công tác theo hướng chủ động nắm tình hình, nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở; tăng cường bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, không gian mạng, dữ liệu và các lĩnh vực trọng yếu; đồng thời củng cố nền tảng xã hội và thế trận an ninh nhân dân. Qua đó, Công an nhân dân góp phần bảo vệ vững chắc các điều kiện để hệ thống chính trị vận hành ổn định, thông suốt, Đảng thực hiện hiệu quả vai trò lãnh đạo, cầm quyền và đất nước phát triển ổn định, bền vững.
Trung tá, TS Dương Thanh Liêm
Phó Trưởng khoa, T03
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.
2. Bộ Chính trị, Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
3. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 về đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.
6. Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
7. Quốc hội, Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14 ngày 12/6/2018.
8. Quốc hội, Luật Công an nhân dân số 37/2018/QH14 ngày 20/11/2018 và Luật số 21/2023/QH15 ngày 22/6/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân.
[1] Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
[2] Đảng Công sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tập II, tr. 83, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[3] Đảng Công sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tập II, tr. 144, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội