Lý luận chính trị
Thứ Năm, 1/10/2026 7:48'(GMT+7)

100 NĂM ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1930 - 2030) – BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ VÀ KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

Kỳ 2: NHỮNG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN CỦA DÂN TỘC DƯỚI

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Kỳ 2: “Những kỷ nguyên phát triển của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng” tập trung phân tích một cách hệ thống tiến trình vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay, đồng thời mở ra tầm nhìn định hướng từ năm 2026. Qua 4 kỷ nguyên phát triển, bài viết làm nổi bật sự chuyển biến mang tính quy luật trong tư duy lãnh đạo, bản lĩnh chính trị và nghệ thuật cầm quyền của Đảng - từ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đổi mới tư duy kinh tế cho đến kiến tạo mô hình phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới, đáp ứng yêu cầu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.

Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) - Ảnh: TTXVN

1. Kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc (1930-1945): từ khủng hoảng đường lối đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã thống nhất thành lập một đảng duy nhất và thông qua các văn kiện chính trị quan trọng, trong đó có Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt. Các văn kiện này xác định phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc trong mối quan hệ với giải quyết vấn đề giai cấp và xây dựng lực lượng cách mạng.

Thách thức đối với Đảng trong những năm đầu thành lập rất lớn. Đảng phải hoạt động trong điều kiện chế độ thuộc địa tăng cường đàn áp, tổ chức cách mạng còn non trẻ, lực lượng vật chất hạn chế và phong trào quần chúng chưa phát triển đồng đều. Đồng thời, cách mạng Việt Nam còn đối mặt với những biến động của tình hình quốc tế, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, sự gia tăng chính sách khủng bố của thực dân Pháp và Chiến tranh thế giới thứ hai liên tục làm thay đổi điều kiện hoạt động cách mạng. Vấn đề đặt ra là xác định đúng nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời điểm, đồng thời duy trì và phát triển lực lượng cách mạng, nắm bắt thời cơ khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Trong gian khó của cuộc đấu tranh giành chính quyền, Đảng ta đã từng trải qua tranh đấu mà trưởng thành, từng bước hình thành phương thức lãnh đạo dựa trên việc kết hợp giữa mục tiêu chiến lược với sách lược phù hợp. Cao trào 1930-1931 để lại những kinh nghiệm đầu tiên về tổ chức và vận động quần chúng, về xây dựng liên minh công - nông, về bài học thời cơ giành chính quyền khi điều kiện tiến hành khởi nghĩa chưa chín muồi, khiến chính quyền mới nhanh chóng bị đàn áp. Phong trào dân chủ 1936-1939 mở rộng khả năng hoạt động công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp, là lần tập dượt tiếp theo của đội quân chính trị đông đảo. Cao trào cách mạng 1939-1945 đánh dấu bước chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 8 năm 1941, đã xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu, đồng thời chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh để tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu nước. Thông qua các cao trào cách mạng, Đảng đã tổ chức quần chúng nhân dân tập dượt đấu tranh, xây dựng lực lượng chính trị đông đảo, lực lượng vũ trang ngày càng trưởng thành và xây dựng căn cứ địa “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”, tạo thế và nguồn lực nội sinh sẵn sàng đón, chớp thời cơ giành chính quyền.

Ngày 15/8/1945, Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, bộ máy thống trị ở Đông Dương rơi vào khủng hoảng, Đảng đã kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa và nhanh chóng giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ý nghĩa của thắng lợi năm 1945 vượt khỏi phạm vi của một cuộc thay đổi chính quyền, là thắng lợi bước ngoặt của kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám khẳng định lần đầu tiên trong lịch sử các dân tộc bị áp bức, một đảng mới 15 năm tuổi đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền khắp nước, đưa Việt Nam từ một nước thuộc địa thành một quốc gia độc lập, xác lập chính quyền cách mạng và mở ra thời kỳ lịch sử mới. Thành quả đó tạo cơ sở chính trị - pháp lý để nhân dân Việt Nam tiếp tục bảo vệ nền độc lập, xây dựng nhà nước mới và từng bước thực hiện những mục tiêu phát triển của cách mạng. Từ đây, nhiệm vụ lịch sử chuyển sang bảo vệ chính quyền, giữ vững độc lập và tiến hành kháng chiến, kiến quốc.

2. Kỷ nguyên giải phóng, thống nhất đất nước và bước đầu đổi mới (1945-1986): từ bảo vệ chính quyền đến thống nhất quốc gia, tìm tòi con đường đổi mới phù hợp

Sau cách mạng Tháng Tám, nhiệm vụ cách mạng chuyển sang bảo vệ chính quyền non trẻ, giữ vững nền độc lập vừa giành được. Nhà nước mới ra đời phải đối mặt đồng thời với nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội và tình hình trị an; nạn đói, nạn mù chữ, ngân khố thiếu hụt và sự hiện diện của quân đội các nước đế quốc tạo nên tình thế đặc biệt phức tạp. Từ cuối năm 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra trên phạm vi cả nước. Trước tình hình đó, Đảng đề ra khẩu hiệu “Dân tộc trên hết! Tổ quốc trên hết!”, chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Nhiệm vụ trước mắt là củng cố chính quyền, cải thiện đời sống nhân dân, kéo dài thời gian hoà hoãn nhằm xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kéo dài biết không thể tránh khỏi. Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nhân nhượng Pháp và Tưởng một số quyền lợi nhất định khẳng định trí tuệ nhạy bén, nghệ thuật ngoại giao linh hoạt của chính phủ Hồ Chí Minh.

Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng xác định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính. Phương thức lãnh đạo này nhằm huy động tổng hợp sức mạnh toàn dân, toàn quân, từng bước chuyển hóa tương quan lực lượng và tạo điều kiện cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi thông qua từng chiến dịch Việt Bắc (1947), Biên giới (1950) và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (1954). Ngoài kiên định đường lối độc lập, tự chủ, đề cao sức mạnh nội lực, Đảng luôn tranh thủ sức mạnh thời đại, đó là sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương và sự ủng hộ của phong trào phản chiến trong lòng nước Pháp. Vì vậy, thắng lợi Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 là chiến thắng chính nghĩa của nhân dân Việt Nam kết hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân ưa chuộng hoà bình, tiến bộ trên toàn thế giới; đồng thời, chiến thắng vĩ đại đó đã tấn công vào thành trì của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, cổ vũ, động viên phong trào giải phóng của các dân tộc thuộc địa.

Sau năm 1954, Đảng xác định hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là phương thức lãnh đạo chưa từng có tiền lệ trong quá trình Đảng lãnh đạo nhưng là sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của một cuộc chiến tranh kéo dài trong điều kiện quốc tế phức tạp. Nghệ thuật lãnh đạo của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ được thể hiện nổi bật ở khả năng nắm vững mục tiêu chiến lược nhưng linh hoạt trong phương pháp và sách lược, chủ động tạo thế, tạo lực và chớp thời cơ để từng bước làm thất bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ. Trước sự thay đổi liên tục của chiến trường, Đảng luôn đánh giá đúng tương quan lực lượng, nhận diện điểm yếu của đối phương và lựa chọn phương thức đấu tranh phù hợp, từ phát huy chiến tranh nhân dân, kết hợp đấu tranh chính trị với quân sự trong đánh bại “Chiến tranh đặc biệt”, đến chủ động xây dựng lực lượng, kết hợp đánh lớn với đánh nhỏ để làm phá sản “Chiến tranh cục bộ”, từ đó, chuyển sang kết hợp chặt chẽ giữa quân sự, chính trị và ngoại giao, thực hiện phương châm “vừa đánh, vừa đàm” để đánh bại “Việt Nam hóa chiến tranh”. Đặc biệt, Đảng thể hiện tư duy chiến lược sắc bén khi biết chuyển hóa thắng lợi từng bước thành những bước ngoặt quyết định, kịp thời nắm bắt thời cơ và chuyển từ tiến công từng bước sang tổng tiến công, nổi dậy bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30/4/1975, kết thúc 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ giành thắng lợi. Điểm nổi bật trong nghệ thuật lãnh đạo của Đảng là sự kết hợp giữa kiên định và linh hoạt, giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa tiến công quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao; qua đó từng bước làm thay đổi tương quan lực lượng, phá vỡ ý đồ chiến lược của đối phương và đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Sau khi thống nhất non sông, cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, song Đảng đứng trước nhiều khó khăn do khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế - xã hội, hậu quả chiến tranh, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp và những hạn chế trong nhận thức về mô hình phát triển. Trong giai đoạn 1975-1986, bản lĩnh và tư duy đổi mới của Đảng được thể hiện trước hết ở khả năng từng bước nhận thức, đánh giá lại thực tiễn và điều chỉnh đường lối trong bối cảnh đất nước chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời, Đảng không né tránh những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, từng bước tìm tòi, thử nghiệm và điều chỉnh chính sách.

Tư duy đổi mới của Đảng được hình thành qua quá trình chuyển biến từng phần, từ đổi mới trong quản lý kinh tế, thừa nhận và khuyến khích những yếu tố sản xuất phù hợp với quy luật khách quan, đến từng bước điều chỉnh cơ chế quản lý, coi trọng lợi ích và hiệu quả kinh tế, mở rộng quyền chủ động cho cơ sở. Những chủ trương như Chỉ thị 100-CT/TW năm 1981 về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, Nghị quyết số 10-NQ/TW (hay còn gọi là Khoán 10) của Bộ Chính trị năm 1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp là bước chuyển mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp. Các bước cải tiến quản lý công nghiệp và lưu thông phân phối cho thấy Đảng đã bắt đầu chuyển từ tư duy quản lý mang tính mệnh lệnh, hành chính sang chú ý hơn đến động lực kinh tế và hiệu quả thực tế. Đặc biệt, Đại hội VI năm 1986 đánh dấu bước phát triển có tính bước ngoặt, khi Đảng thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo và quản lý, từ đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Bản lĩnh của Đảng trong giai đoạn này không chỉ thể hiện ở sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà còn ở khả năng tự nhìn nhận, tự điều chỉnh và đổi mới phương thức lãnh đạo trên cơ sở tổng kết thực tiễn. Đổi mới tư duy của Đảng là một quá trình tìm tòi, thử nghiệm, lắng nghe “lòng dân”, từng bước tạo tiền đề cho công cuộc Đổi mới từ năm 1986.

3. Kỷ nguyên đổi mới, hội nhập và phát triển (1986-2025): từ khủng hoảng đến nâng cao tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước

Đại hội VI năm 1986 tạo nên bước chuyển về tư duy phát triển của Đảng, từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang quá trình từng bước phát huy các quy luật của kinh tế hàng hóa và thị trường. Mốc năm 1986 vừa là điểm kết thúc của một giai đoạn phát triển sau chiến tranh, vừa mở đầu cho kỷ nguyên đổi mới toàn diện đất nước. Đảng hoạch định đường lối đổi mới trước hết trên lĩnh vực kinh tế, với yêu cầu giải phóng sức sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và từng bước hoàn thiện cơ chế thị trường. Qua các kỳ Đại hội, nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện, gắn với đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền và mở rộng hội nhập quốc tế.

Nếu như trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đứng trước tình trạng trì trệ, lạm phát cao, thiếu hụt hàng hóa và những hạn chế ngày càng rõ của cơ chế quản lý tập trung, thì sau bốn thập niên đổi mới, Việt Nam đã hình thành nền kinh tế hội nhập, năng lực sản xuất và sức cạnh tranh được cải thiện, đồng thời khẳng định vị thế ngày càng rõ trong khu vực và trên trường quốc tế. Điểm cốt lõi của quá trình này là Đảng từng bước chuyển từ tư duy quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính sang tư duy tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường, coi thị trường là một phương thức quan trọng để phân bổ nguồn lực nhưng đồng thời duy trì vai trò quản lý, định hướng của Nhà nước. Từ chỗ thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, mở rộng quyền tự chủ sản xuất – kinh doanh, tư duy phát triển tiếp tục được hoàn thiện với quan niệm về “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, qua đó tạo khuôn khổ để huy động nhiều nguồn lực hơn cho tăng trưởng.

Một bước ngoặt khác là quá trình phá thế bao vây, cấm vận và mở rộng hội nhập quốc tế. Việt Nam gia nhập ASEAN ngày 28/7/1995, trở thành thành viên thứ bảy của tổ chức này. Cùng năm đó, Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ. Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký năm 2000 và Việt Nam trở thành thành viên WTO năm 2007. Những sự kiện này tạo ra không gian phát triển rộng lớn hơn cho nền kinh tế và thúc đẩy quá trình cải cách thể chế. Việc tham gia CPTPP, EVFTA và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tiếp tục đưa Việt Nam hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu. Quá trình hội nhập góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ và thúc đẩy cải cách môi trường kinh doanh.

Những kết quả kinh tế đạt được sau gần bốn thập niên đổi mới thể hiện rõ sự thay đổi về quy mô phát triển. Tính đến tháng 10 năm 2024, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết 17 FTA với trên 60 quốc gia, đối tác lớn trên toàn cầu và liên kết kinh tế song phương, đa phương, khu vực và liên khu vực, mở ra những thị trường xuất khẩu tiềm năng, vận động, thu hút đầu tư FDI, viện trợ ODA từ các đối tác hàng đầu trên thế giới, nhờ đó đã tranh thủ được lượng vốn đầu tư, tri thức, công nghệ mới và các nguồn lực quan trọng khác từ bên ngoài, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Năm 2024, GDP của Việt Nam tính theo giá hiện hành ước đạt 11.511,9 nghìn tỉ đồng, tương đương 476,3 tỉ USD, dự báo đứng thứ 33 thế giới; GDP (tính theo PPP) đạt khoảng 1.559 tỉ USD, xếp thứ 3 khu vực Đông Nam Á, thứ 25 thế giới; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành ước đạt 114 triệu đồng/người, tương đương 4.700 USD, tăng 377 USD so với năm 2023. Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Những thành tựu được xây đắp trong bốn thập niên đổi mới trở thành tiền đề trực tiếp để Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình từ năm 2026.

4. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc từ năm 2026: từ nền tảng đổi mới đến mục tiêu trở thành nước phát triển

Bước sang giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra cao hơn nhiều so với bài toán thoát nghèo, ổn định trước đây, tái cấu trúc mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; nâng cao năng lực nội sinh và tính tự chủ chiến lược của nền kinh tế, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt và khó lường. Đồng thời, yêu cầu tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu năng quản trị quốc gia cũng là một thách thức nội tại không nhỏ, đòi hỏi thay đổi cả về thể chế lẫn thói quen vận hành đã hình thành trong thời gian dài.

Đại hội XIV xác định giai đoạn 2026-2030 là thời kỳ có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2045. Đại hội đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 khoảng 8.500 USD.

Bước vào kỷ nguyên vươn mình, tư duy lãnh đạo của Đảng có sự chuyển mạnh từ “tháo gỡ để phát triển” sang “cải cách để bứt phá”, từ giải quyết những hạn chế trước mắt sang chủ động kiến tạo mô hình phát triển mới. Sự chuyển biến này được thể hiện qua hệ thống nghị quyết, kết luận quan trọng được ban hành trong những năm 2024-2025. Nếu Nghị quyết 18-NQ/TW năm 2017 đặt nền móng cho yêu cầu tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, thì đến năm 2025, chủ trương này được đẩy mạnh với Kết luận 121-KL/TW, Kết luận 126-KL/TW và Kết luận 127-KL/TW, gắn tinh gọn tổ chức với sắp xếp đơn vị hành chính, phân cấp, phân quyền và đổi mới mô hình chính quyền địa phương. Đây không đơn thuần là việc giảm đầu mối hay số lượng cơ quan, mà phản ánh một tư duy quản trị mới: muốn tạo ra năng lực phát triển mới thì phải đổi mới chính cấu trúc vận hành của hệ thống, xây dựng bộ máy tinh gọn, rõ chức năng, rõ trách nhiệm, giảm tầng nấc trung gian và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Tư duy kiến tạo mô hình phát triển mới còn thể hiện rõ qua Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nếu trong các giai đoạn trước, khoa học và công nghệ chủ yếu được nhìn nhận như một lĩnh vực hỗ trợ phát triển, thì nay được đặt vào vị trí động lực quan trọng để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Cùng với đó, Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật và Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân cho thấy cách tiếp cận ngày càng có tính hệ thống của Đảng. Hội nhập được đặt trong mối quan hệ với tự chủ chiến lược; pháp luật được xác định là một trong những động lực kiến tạo phát triển; kinh tế tư nhân được nhìn nhận như một động lực quan trọng của nền kinh tế. Các nghị quyết này, xét trong tổng thể, cho thấy Đảng đang tập trung xử lý những điểm nghẽn căn bản của quá trình phát triển, từ thể chế, bộ máy, khoa học - công nghệ đến nguồn lực xã hội và năng lực của khu vực tư nhân.

Bản lĩnh lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn này chính là sự chủ động nhận diện và trực diện xử lý những vấn đề khó, phức tạp và có tính hệ thống. Tinh gọn bộ máy đòi hỏi phải thay đổi những cơ chế, tổ chức và phương thức vận hành đã tồn tại trong thời gian dài; cải cách thể chế yêu cầu phải loại bỏ những quy định không còn phù hợp; để đổi mới mô hình tăng trưởng cần giảm sự phụ thuộc vào những lợi thế truyền thống để chuyển sang dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, năng suất và sáng tạo. Vì vậy, giá trị của các chủ trương mới không chỉ nằm ở nội dung chính sách, mà còn thể hiện ở quyết tâm chính trị và tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật”, chủ động xác định, lựa chọn khâu đột phá và tập trung nguồn lực để tháo gỡ những “điểm nghẽn” phát triển.

Trong kỷ nguyên vươn mình, với tinh thần quyết liệt “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”, có thể thấy rõ sự kết hợp giữa bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Đảng. Bản lĩnh thể hiện ở sự kiên định mục tiêu phát triển đất nước, đồng thời dám nghĩ, dám làm, dám thay đổi những cách làm không còn phù hợp, dám đương đầu với khó khăn và thách thức của đột phá. Tầm nhìn chiến lược thể hiện ở việc không xem xét từng vấn đề một cách biệt lập mà đặt thể chế, tổ chức bộ máy, khoa học - công nghệ, kinh tế tư nhân, nguồn nhân lực và hội nhập quốc tế trong một chỉnh thể thống nhất. Đổi mới năm 1986 trước hết là quá trình giải phóng sức sản xuất khỏi những ràng buộc của cơ chế cũ, thì đổi mới năm 2026 là giải phóng sức sáng tạo của con người, sức mạnh của doanh nghiệp, nguồn lực của xã hội và năng lực của bộ máy nhà nước để tạo ra một không gian phát triển sâu, rộng. Do đó, “kỷ nguyên vươn mình” không chỉ như một giai đoạn tăng trưởng nhanh hơn, mà sâu xa hơn là một bước chuyển về tư duy phát triển và phương thức lãnh đạo. Trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, Đảng tiếp tục ban hành các Nghị quyết 18-NQ/TW về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển; về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Nghị quyết 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; Nghị quyết 22- NQ/TW về Chiến lược An ninh quốc gia… là một hệ thống các quan điểm, chủ trương mang tính chỉnh thể đồng bộ, thống nhất, là tiền đề quan trọng để Việt Nam chuyển từ một nền kinh tế đang phát triển sang một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao hơn, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.

Nhìn từ năm 1930 đến năm 2026, những thắng lợi bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam cần đặt trong tổng thể mối quan hệ biện chứng giữa chủ trương của Đảng, năng lực tổ chức thực hiện, kết quả thực tiễn và bài học kinh nghiệm tạo tiền đề cho những đột phá ở những giai đoạn tiếp theo. Bản lĩnh và trí tuệ lãnh đạo cách mạng của Đảng thể hiện qua năng lực dự báo, đánh giá vấn đề lịch sử, xác định nhiệm vụ trung tâm, lựa chọn phương thức phù hợp, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện những quyết sách có ý nghĩa bước ngoặt. Mỗi giai đoạn đều đặt ra những yêu cầu mới, đồng thời kế thừa những thành quả và kinh nghiệm của giai đoạn trước.

Kỷ nguyên vươn mình đã và đang đặt ra một yêu cầu mới về nâng cao phương thức lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, mà trọng tâm chuyển sang kiến tạo năng lực phát triển dài hạn, nâng cao hiệu quả quản trị, thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực. Năng lực lãnh đạo, cầm quyền luôn đổi mới, thích ứng, có hiệu quả sẽ tạo nên bước ngoặt tiếp theo trong tiến trình phát triển của dân tộc, đưa đất nước Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao; sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mong muốn.

TS, Đại tá Tống Văn Khuông

TS, Trung tá Lê Mai Trang

 


 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và những yêu cầu lịch sử, https://tuyengiaodanvan.vn/vn/blogs/ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-va-nhung-yeu-cau-lich-su-6870d40573b9de35168e3e2e

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (dành cho bậc đại học), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc (Đại hội II đến Đại hội XIV), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

5. Nguyễn Phú Trọng (2019), Vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, khó khăn nào cũng vượt qua, NXB Chính trị quốc gia sự thật, H.2019.

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất