Nếu Kỳ 1 tái hiện cuộc “xé rào” cởi trói sức sản xuất và Kỳ 2 khắc họa bản lĩnh phá vây, hội nhập, thì Kỳ 3 sẽ nói về đích đến cuối cùng của mọi đường lối, chính sách - đời sống thiết thực của người dân. Đổi mới không chỉ là những con số tăng trưởng GDP trên giấy, mà là sự đổi thay hiện hữu trong từng bữa ăn, từng nếp nhà và trên mọi nẻo đường đất nước. Từ một quốc gia thiếu đói, hạ tầng lạc hậu, Việt Nam đã kiến tạo nên “kỳ tích” giảm nghèo được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đồng thời xây dựng một hệ thống hạ tầng hiện đại làm nền tảng cho tương lai.

Đường quê sạch đẹp. Ảnh: Mỹ Trân.
1. Từ “lõi nghèo” đến cuộc cách mạng trao “cần câu”
Những thành quả về giảm nghèo hôm nay bắt nguồn trực tiếp từ hai nền tảng đã được xác lập ở các kỳ trước: sức sản xuất được cởi trói từ Đại hội VI đã tạo ra của cải vật chất ngày càng dồi dào, còn cánh cửa hội nhập được mở ra đã mang về nguồn lực, công nghệ và thị trường để chuyển hóa của cải ấy thành những chính sách an sinh xã hội thiết thực. Không có bước “xé rào” năm 1986 và cuộc phá vây những năm 1990, sẽ không có nguồn lực để thực hiện cuộc cách mạng giảm nghèo có quy mô và chiều sâu như đã diễn ra suốt bốn thập kỷ qua.
Đầu thập niên 1990, khi Việt Nam bắt đầu công cuộc giảm nghèo, cái nghèo không chỉ dừng lại ở thiếu ăn, thiếu mặc mà là sự bế tắc toàn diện: thiếu đường giao thông, thiếu điện lưới, người dân không tiếp cận được y tế, giáo dục và nguồn vốn sản xuất. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước thời điểm đó chiếm tới hơn 58%.
Trước thách thức sinh tồn, Việt Nam đã triển khai chuỗi chính sách an sinh xã hội mang tính chiến lược dài hạn như Chương trình 135, Chương trình 30a, Chiến lược giảm nghèo bền vững và Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới. Điểm đột phá lớn nhất nằm ở sự chuyển dịch tư duy: chuyển từ cấp phát, trợ cấp thụ động (“cho con cá”) sang hỗ trợ nâng cao năng lực, tạo sinh kế bền vững (“cho cần câu” và “dạy cách câu”). Ngân hàng Chính sách xã hội trở thành “bà đỡ” tiếp vốn ưu đãi cho hàng triệu hộ nghèo, giúp người dân tự tin phát triển sản xuất, vươn lên làm giàu chính đáng.
Trên khắp dải đất hình chữ S, những câu chuyện đổi thay cụ thể đã minh chứng sinh động cho hiệu quả của các chính sách giảm nghèo. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, nơi từng được xem là “lõi nghèo” của cả nước với địa hình chia cắt, giao thông cách trở, nguồn vốn tín dụng chính sách kết hợp với các mô hình sinh kế phù hợp với thổ nhưỡng địa phương (trồng cây ăn quả ôn đới, chè shan tuyết, dược liệu dưới tán rừng...) đã giúp hàng vạn hộ đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo bền vững. Tính đến cuối năm 2024, đã có nhiều huyện nghèo trong danh sách 74 huyện nghèo của cả nước, trong đó có huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế), Khánh Sơn, Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) chính thức được công nhận thoát nghèo, cùng hàng chục xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển, hải đảo ra khỏi diện đặc biệt khó khăn.
Đáng chú ý, trong năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số đã giảm mạnh xuống còn khoảng 12,55%, giảm gần 4 điểm phần trăm chỉ trong một năm. Đây là kết quả của việc triển khai đồng bộ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, cho thấy chính sách giảm nghèo của Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu, hướng đúng vào nhóm đối tượng khó khăn nhất.

Đánh giá về hành trình này, Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Phát Liên Hợp Quốc (UNDP) đều nhận định: Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công nhất về xóa đói giảm nghèo trong lịch sử phát triển hiện đại, trở thành điểm sáng toàn cầu về thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc.
Song hành với công tác giảm nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới đã làm thay đổi căn bản diện mạo hàng nghìn làng quê Việt Nam. Tính đến cuối năm 2023, cả nước đã có 8.320 xã, chiếm 77,4% tổng số xã trên cả nước, được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; trong đó có 2.182 xã (34,6%) đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 480 xã (7,6%) đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, những mô hình nông thôn văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống. Từ những con đường làng lầy lội, nhà tranh vách đất phổ biến trước Đổi mới, nhiều vùng nông thôn Việt Nam hôm nay đã có đường bê tông, đường thảm nhựa, điện thắp sáng, trường học, trạm y tế khang trang, một sự đổi thay mà bất cứ ai từng chứng kiến “đêm trước Đổi mới” cũng phải ghi nhận như một kỳ tích.
Song song với xóa đói giảm nghèo, ngành nông nghiệp Việt Nam đã trải qua một cuộc chuyển mình ngoạn mục: từ một nền sản xuất manh mún, tự cấp tự túc, thường xuyên đối mặt với nguy cơ mất mùa, thiếu đói giáp hạt trước Đổi mới, đến nay đã trở thành trụ đỡ vững chắc của nền kinh tế. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất, cùng với hệ thống thủy lợi, đê điều được đầu tư nâng cấp qua nhiều thế hệ, đã giúp năng suất lúa và nhiều loại nông sản chủ lực tăng gấp nhiều lần so với thời kỳ trước Đổi mới, trong khi diện tích canh tác không tăng tương ứng, minh chứng rõ nét cho việc khoa học công nghệ đã trở thành động lực tăng trưởng mới, thay thế dần cho mô hình tăng trưởng dựa vào mở rộng diện tích và thâm dụng lao động.
Từ một quốc gia từng phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực mỗi năm trong giai đoạn khủng hoảng, ngành nông nghiệp Việt Nam hôm nay không chỉ bảo đảm vững chắc an ninh lương thực cho hơn 100 triệu dân trong nước, mà còn đóng góp tích cực vào an ninh lương thực toàn cầu thông qua các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gạo, cà phê, hạt điều, thủy sản, rau quả. Đời sống của hàng chục triệu nông dân, nhờ đó, cũng được cải thiện rõ rệt, thu hẹp đáng kể khoảng cách so với khu vực đô thị so với ba, bốn thập kỷ trước.
Sự chuyển mình của khu vực nông nghiệp, nông thôn còn được tiếp sức mạnh mẽ bởi làn sóng doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, một xu hướng ngày càng rõ nét khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mở ra những tiêu chuẩn khắt khe hơn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, buộc cả chuỗi sản xuất nông nghiệp phải nâng cấp để đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Đây chính là một minh chứng cụ thể cho thấy đổi mới, hội nhập và giảm nghèo không phải ba câu chuyện tách rời, mà là ba mặt của cùng một quá trình phát triển thống nhất.
2. Bứt phá hạ tầng: “Đường mở đến đâu, tương lai rộng ra đến đó”
Song hành cùng kỳ tích giảm nghèo là cuộc bứt phá ngoạn mục về hạ tầng cơ sở - mạch máu vận hành toàn bộ nền kinh tế.
Trục giao thông huyết mạch
Những năm đầu Đổi mới, việc đi lại giữa hai miền Nam - Bắc mất hàng tuần lễ qua những đoạn đường rải sỏi bám đầy bụi đỏ và hàng trăm chuyến phà lụy dòng. Giai đoạn 2001 - 2010, cả nước mới chỉ có khoảng 89 km đường bộ cao tốc; đến hết năm 2020, con số này đạt 1.163 km. Chỉ trong 5 năm (2021 - 2025), với quyết tâm chính trị được ví như tinh thần “biến không thành có, biến khó thành dễ, biến không thể thành có thể”, cả nước đã hoàn thành đưa vào khai thác 3.345 km tuyến chính cao tốc, vượt xa chỉ tiêu 3.000 km mà Chính phủ đề ra, trong đó có việc cơ bản thông tuyến cao tốc Bắc - Nam từ Cao Bằng đến Cà Mau. Đây được xem là một kỳ tích của ngành giao thông vận tải, khi tốc độ xây dựng 5 năm gần đây đã vượt xa tổng khối lượng cao tốc làm được trong suốt hai thập kỷ trước đó cộng lại. Mục tiêu tiếp theo đã được xác định rõ: đến năm 2030, cả nước sẽ có 5.000 km đường bộ cao tốc, tạo thành mạng lưới kết nối liên hoàn giữa các vùng kinh tế trọng điểm.

Hành trình bứt phá của hạ tầng cao tốc Việt Nam qua các mốc thời gian
Bên cạnh đường bộ cao tốc, hạ tầng hàng không cũng chứng kiến bước phát triển vượt bậc: từ chỗ cả nước chỉ có vài sân bay quy mô nhỏ, khai thác hạn chế, đến nay mạng lưới cảng hàng không đã được mở rộng, nâng cấp trên khắp ba miền, với các sân bay quốc tế lớn liên tục được đầu tư mở rộng công suất để đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương ngày càng tăng.
Trong lĩnh vực đường sắt, sau nhiều thập kỷ hệ thống đường sắt Việt Nam gần như “giậm chân tại chỗ” với công nghệ và tốc độ khai thác không thay đổi nhiều so với thời Pháp thuộc, chủ trương đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đã được Quốc hội thông qua, đánh dấu bước chuyển mình mang tính lịch sử của ngành đường sắt quốc gia. Đây được xem là một trong những dự án hạ tầng có quy mô vốn đầu tư lớn nhất từ trước đến nay, thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc hiện đại hóa toàn diện hệ thống giao thông, tạo thêm một trục kết nối Bắc - Nam tốc độ cao, giảm tải cho cả đường bộ và hàng không.
Các cảng biển nước sâu (Lạch Huyện, Cái Mép - Thị Vải) cùng hệ thống cảng hàng không quốc tế cũng được đầu tư nâng cấp đồng bộ, tạo thành một mạng lưới hạ tầng đa phương thức, kết nối trực tiếp với các tuyến hàng hải, hàng không quốc tế, chính là điều kiện vật chất không thể thiếu để những thành quả hội nhập có thể phát huy trọn vẹn hiệu quả trên thực địa.
Hạ tầng năng lượng và viễn thông
Không chỉ dừng lại ở hạ tầng “cứng” như đường sá, điện lưới, Việt Nam những năm gần đây đã dồn lực đầu tư cho hạ tầng “mềm”, hạ tầng số và dữ liệu quốc gia. Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử đã kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương, tạo nền tảng để triển khai Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Từ một quốc gia mà cách đây chưa đầy hai thập kỷ, điện thoại cố định còn là vật dụng xa xỉ ở nhiều vùng nông thôn, Việt Nam hiện nay đã có mật độ thuê bao di động, tỷ lệ người dùng Internet và điện thoại thông minh thuộc nhóm cao trong khu vực, tạo tiền đề quan trọng để người dân, kể cả ở vùng sâu, vùng xa, tiếp cận bình đẳng hơn với thông tin, dịch vụ công trực tuyến và các cơ hội phát triển kinh tế số.
Từng đối mặt với cuộc khủng hoảng thiếu điện nghiêm trọng, khi tỷ lệ hộ dùng điện lưới đầu thập niên 1990 còn dưới 50% Việt Nam đã xây dựng thành công hệ thống đường dây 500kV Bắc - Nam, đưa điện lưới quốc gia phủ khắp các bản làng vùng cao và vươn xa tới các huyện đảo tiền tiêu như Phú Quốc, Lý Sơn, Trường Sa. Đến năm 2024, tỷ lệ hộ dân cả nước được sử dụng điện sinh hoạt đã đạt 99,9%, gần như không còn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Đồng thời, cuộc cách mạng viễn thông đã biến Việt Nam từ một quốc gia gần như “trắng” về thông tin liên lạc thành nước có tỷ lệ phủ sóng di động và mật độ sử dụng điện thoại thông minh thuộc nhóm hàng đầu khu vực Đông Nam Á.
3. Nền tảng vững chắc để không ai bị bỏ lại phía sau
Hạ tầng phát triển không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý mà còn thu hẹp khoảng cách phát triển giữa đô thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền ngược. Một con đường cao tốc mới mở ra đồng nghĩa với nông sản vùng cao kịp thời xuống cảng, nhà máy mọc lên tại các vùng quê, tạo ra hàng triệu việc làm ngay trên quê hương cho người lao động, giảm áp lực di cư tự phát ra các đô thị lớn.
Song hành cùng những con số về thu nhập và hạ tầng, chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam còn được phản ánh qua sự tiến bộ vượt bậc của các chỉ số xã hội then chốt. Tuổi thọ trung bình của người dân đã tăng từ khoảng 65,5 tuổi những năm đầu Đổi mới lên 74,6 tuổi vào năm 2024, một mức tăng gần 10 tuổi, cao hơn nhiều quốc gia có cùng trình độ phát triển kinh tế, phản ánh những tiến bộ vượt bậc của hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em giảm mạnh; mạng lưới y tế cơ sở được củng cố tới tận thôn, bản; bảo hiểm y tế toàn dân từng bước được hiện thực hóa, giúp hàng chục triệu người dân, đặc biệt là người nghèo, người dân tộc thiểu số, tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh mà không phải gánh chịu gánh nặng chi phí quá lớn.
Trong lĩnh vực giáo dục, Chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, chế độ cử tuyển cho con em đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo điều kiện để hàng triệu thanh niên nông thôn, miền núi có cơ hội học tập, nâng cao trình độ, từng bước thoát khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo và thất học.
Nếu như trước Đổi mới, sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền là rất lớn, thì hạ tầng giao thông, điện, viễn thông được phủ rộng đã tạo điều kiện để các địa phương vốn khó khăn từng bước bắt kịp nhịp phát triển chung của cả nước. Nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, vốn từng là những “vùng trũng” về phát triển, nay đã hình thành các vùng chuyên canh nông sản hàng hóa quy mô lớn, xuất khẩu ra thị trường quốc tế nhờ hệ thống logistics được kết nối thông suốt từ vùng nguyên liệu đến cảng biển. Khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, dù vẫn còn tồn tại, song đã được thu hẹp đáng kể so với 40 năm trước, tạo nền tảng cho một sự phát triển hài hòa, bao trùm hơn.
Bên cạnh những thành tựu to lớn, công cuộc giảm nghèo và phát triển hạ tầng của Việt Nam vẫn còn đối diện không ít thách thức. Tỷ lệ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số, dù đã giảm mạnh, vẫn còn cao hơn nhiều lần so với mặt bằng chung cả nước; nguy cơ tái nghèo do thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu vẫn luôn hiện hữu, đặc biệt tại các vùng duyên hải miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long. Việc kết nối hạ tầng “chặng cuối”, từ trục quốc lộ, cao tốc tới tận thôn, bản, cánh đồng vẫn cần thêm nguồn lực và thời gian để hoàn thiện đồng bộ. Nhìn thẳng vào những hạn chế này, thay vì né tránh, chính là sự tiếp nối nhất quán tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật” đã được xác lập từ Đại hội VI, và là cơ sở để hoạch định các bước đi tiếp theo một cách thực chất, hiệu quả hơn.
Lời kết Kỳ 3
Kỳ tích giảm nghèo và sự lớn mạnh của hạ tầng đất nước sau 40 năm Đổi mới chính là minh chứng sống động nhất cho bản chất của mô hình phát triển ở Việt Nam: tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển. Đây cũng chính là thước đo cuối cùng, thực chất nhất để đánh giá thành công của cả hành trình “xé rào” cởi trói sức sản xuất và phá vây hội nhập quốc tế đã được kể trong hai kỳ trước: mọi nỗ lực đổi mới, mọi thành tựu đối ngoại, kinh tế, xét đến cùng, đều phải quy về mục tiêu tối thượng là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Song, hành trình phía trước vẫn còn nhiều khó khăn: khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền, dù đã thu hẹp, vẫn chưa được xóa bỏ hoàn toàn; chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài vẫn cần tiếp tục được củng cố. Đặc biệt, phát triển kinh tế - xã hội vượt bậc cũng đặt ra những đòi hỏi mới, cấp bách hơn về hoàn thiện thể chế và làm trong sạch bộ máy, để nguồn lực quốc gia được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, không bị thất thoát, trục lợi bởi tham nhũng, tiêu cực, từ đó bảo vệ vững chắc và phát huy bền vững những thành quả đã dày công vun đắp.
Nguyễn Đình Thiện
Nguyễn Thị Hoài Thu
KỲ 4: HOÀN THIỆN THỂ CHẾ VÀ "LÒ NÓNG" CHỈNH ĐỐN ĐẢNG