Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” đặt yêu cầu học tập và thực hành những giá trị Hồ Chí Minh gắn trực tiếp với thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Trong đó, nhấn mạnh yêu cầu “thực hành”, làm rõ hơn yêu cầu chuyển hóa những giá trị đã được nhận thức thành phương thức làm việc, chuẩn mực ứng xử và hành động cụ thể của cán bộ, đảng viên. Từ yêu cầu đó, đổi mới tác phong công vụ cần được xem xét như một nội dung trực tiếp của quá trình thực hành phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh. Tác phong công vụ không chỉ biểu hiện ở thái độ, lề lối làm việc, mà còn thể hiện ở cách cán bộ tiếp cận nhiệm vụ, xử lý công việc, ra quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả. Vì vậy, yêu cầu đổi mới tác phong công vụ trong giai đoạn mới đặt ra sự chuyển biến từ cách thức làm việc thiên về thụ động, an toàn sang chủ động nhận diện và giải quyết vấn đề; từ chú trọng hoàn thành quy trình sang gắn trách nhiệm với chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ; từ tâm lý né tránh, đùn đẩy trách nhiệm sang chủ động, quyết đoán và dám chịu trách nhiệm trong phạm vi chức trách, thẩm quyền.
1. Phương pháp Hồ Chí Minh - cơ sở phương pháp luận của đổi mới tác phong công vụ
Trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương pháp có vị trí đặc biệt quan trọng, bởi tư tưởng chỉ có thể trở thành hiện thực thông qua phương thức tổ chức và hành động phù hợp. Người luôn yêu cầu thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa nhận thức và hành động, giữa lời nói và việc làm. Khi bàn về phương pháp học tập lý luận, Người chỉ rõ: “lý luận phải liên hệ với thực tế”; đồng thời nhấn mạnh: “Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” . Quan điểm đó không chỉ đặt ra yêu cầu đối với việc nghiên cứu và vận dụng lý luận cách mạng, mà còn gợi mở một nguyên tắc phương pháp luận có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động công vụ: mọi chủ trương, quan điểm và quy định chỉ có giá trị đầy đủ khi được chuyển hóa thành phương thức hành động phù hợp với thực tiễn và tạo ra kết quả cụ thể.
Từ yêu cầu thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng phương pháp làm việc khoa học, thiết thực, chống bệnh chủ quan, hình thức và xa rời thực tế. Đối với cán bộ, Người không đặt trọng tâm vào việc nói đúng về chủ trương, mà đòi hỏi phải biết tổ chức thực hiện, kiểm nghiệm chủ trương trong thực tiễn và điều chỉnh cách làm khi thực tiễn đặt ra những vấn đề mới. Vì vậy, đổi mới tác phong công vụ trước hết phải được nhìn nhận là đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ: từ cách làm thiên về thủ tục, thụ động và an toàn sang cách làm chủ động, khoa học, sát thực tiễn, có khả năng nhận diện vấn đề, lựa chọn phương án và tổ chức thực hiện đến cùng.
Phương pháp Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm của hoạt động của Đảng và Nhà nước. Trong Sửa đổi lối làm việc, Người xác định rõ: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân” và yêu cầu cán bộ phải thực hiện: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh” . Đây không chỉ là yêu cầu về đạo đức của người cán bộ, mà còn là nguyên tắc xác định mục đích và phương hướng của hoạt động công vụ. Theo đó, quyền hạn được trao phải được chuyển hóa thành trách nhiệm phục vụ; nhiệm vụ được giao phải được xem xét trong mối quan hệ với kết quả phục vụ nhân dân; hiệu quả công việc không thể chỉ được đánh giá từ việc hoàn thành quy trình có sẵn, mà phải được xem xét từ kết quả thực tế và những lợi ích mà hoạt động công vụ mang lại cho nhân dân.
Trong phương pháp làm việc của Hồ Chí Minh, “nói đi đôi với làm” là một yêu cầu có tính nguyên tắc. Người không chấp nhận sự tách rời giữa lời nói, chủ trương với hành động thực tế, bởi sự thống nhất giữa lời nói và việc làm vừa thể hiện trách nhiệm của người cán bộ, vừa là cơ sở tạo dựng niềm tin đối với quần chúng. Đặt trong yêu cầu đổi mới tác phong công vụ hiện nay, nguyên tắc ấy đòi hỏi cán bộ không dừng lại ở việc thể hiện tinh thần trách nhiệm bằng lời nói hoặc cam kết, mà phải thể hiện trách nhiệm bằng quyết định, hành động, tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Như vậy, xét từ phương pháp Hồ Chí Minh, đổi mới tác phong công vụ không đơn thuần là thay đổi thái độ hay cách thức giao tiếp trong thực thi nhiệm vụ, mà sâu xa hơn là đổi mới cách cán bộ nhận thức nhiệm vụ, lựa chọn phương pháp, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả. Từ yêu cầu gắn lý luận với thực tiễn, thống nhất lời nói với việc làm và đặt lợi ích của nhân dân làm căn cứ định hướng hành động, có thể thấy rõ cơ sở phương pháp luận của yêu cầu xây dựng tác phong công vụ chủ động, khoa học, dân chủ, thiết thực và có trách nhiệm. Trong điều kiện mới, những yêu cầu đó cần được cụ thể hóa thành năng lực hành động, đặc biệt là khả năng dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung.
2. Những chuyển biến trong tác phong công vụ theo yêu cầu “thực hành” của Chỉ thị 07-CT/TW
Nếu yêu cầu “thực hành” trong Chỉ thị số 07-CT/TW được đặt trong mối quan hệ với thực hiện nhiệm vụ chính trị, thì đổi mới tác phong công vụ phải được thể hiện trước hết ở phương thức cán bộ chuyển trách nhiệm được giao thành hành động và kết quả cụ thể. Đây không phải là sự thay đổi đơn thuần về lề lối hay biểu hiện bên ngoài, mà là sự chuyển biến trong cách tiếp cận nhiệm vụ, xử lý vấn đề, thực hiện thẩm quyền và chịu trách nhiệm. Từ tinh thần của Chỉ thị 07-CT/TW, có thể nhận diện một số chuyển biến chủ yếu sau:
Một là, từ tâm thế thụ động, thiên về an toàn sang chủ động nhận diện và giải quyết vấn đề.
Yêu cầu “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” trước hết đặt ra sự chuyển biến về tư duy thực hiện nhiệm vụ. Cán bộ không chỉ tiếp nhận và thực hiện những công việc đã được xác định rõ, mà cần chủ động nghiên cứu thực tiễn, nhận diện vấn đề, dự báo khả năng phát sinh và đề xuất phương án xử lý phù hợp. Đối với công việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm không dừng ở việc tham mưu mà phải được thể hiện ở khả năng quyết định và tổ chức thực hiện; đối với vấn đề vượt thẩm quyền, cần chủ động nghiên cứu, đề xuất phương án để cấp có thẩm quyền xem xét, thay vì chỉ chuyển tiếp trách nhiệm.
Ở đây, “dám nghĩ” cần được hiểu trước hết là năng lực tư duy độc lập và khả năng tìm kiếm phương án phù hợp với yêu cầu thực tiễn; “dám làm” là khả năng chuyển phương án thành hành động trong phạm vi chức trách, thẩm quyền; còn “dám chịu trách nhiệm” là ý thức gắn quyết định và hành động của cá nhân với trách nhiệm giải trình về quá trình và kết quả thực hiện. Ba yếu tố này tạo thành một chỉnh thể, trong đó chủ động phải đi liền với căn cứ, quyết đoán phải gắn với thẩm quyền và hành động phải gắn với trách nhiệm.
Hai là, từ coi trọng việc hoàn thành công việc sang coi trọng chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.
“Thực hành” đòi hỏi nhiệm vụ được chuyển hóa thành kết quả thực tế, do đó tác phong công vụ không thể chỉ được đánh giá qua việc hoàn thành các bước công việc theo quy định. Tuân thủ quy trình vẫn là yêu cầu nền tảng của hoạt động công vụ, nhưng quy trình phải được đặt trong quan hệ với mục tiêu, chất lượng và hiệu quả của nhiệm vụ. Một tác phong làm việc thực chất đòi hỏi cán bộ theo dõi nhiệm vụ từ khâu xác định mục tiêu, lựa chọn phương án, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, đánh giá và xử lý những vấn đề phát sinh.
Theo tinh thần Chỉ thị 07-CT/TW, sản phẩm, chất lượng, hiệu quả và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp được nhấn mạnh như những căn cứ quan trọng để xem xét kết quả thực hiện. Điều này đặt ra yêu cầu chuyển từ cách nhìn công việc theo từng thủ tục, từng khâu sang cách nhìn theo toàn bộ quá trình và kết quả cuối cùng. Đổi mới tác phong công vụ vì vậy không phải là giảm yêu cầu về kỷ luật, quy trình, mà là bảo đảm sự thống nhất giữa làm đúng quy định và hoàn thành thực chất mục tiêu của nhiệm vụ.
Ba là, từ trách nhiệm thực hiện sang trách nhiệm đến cùng đối với nhiệm vụ được giao.
Trách nhiệm công vụ được xác lập trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và sự phân công trong tổ chức. Tuy nhiên, thực hành trách nhiệm không chỉ thể hiện ở việc hoàn thành phần việc được giao, mà còn ở khả năng theo sát nhiệm vụ đến kết quả cuối cùng trong phạm vi trách nhiệm của mình. Điều đó đòi hỏi cán bộ phải chủ động phối hợp, kịp thời xử lý những vấn đề thuộc thẩm quyền và không né tránh trách nhiệm khi phát sinh khó khăn trong quá trình thực hiện.
Gắn trách nhiệm với kết quả không có nghĩa quy mọi kết quả chưa đạt cho cá nhân cán bộ. Trong thực tiễn, kết quả thực hiện nhiệm vụ còn chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và của sự phối hợp giữa các chủ thể. Vì vậy, đánh giá trách nhiệm cần xem xét đồng thời quá trình thực hiện, mức độ chủ động, căn cứ của quyết định, phạm vi thẩm quyền, ý thức chấp hành nguyên tắc và kết quả đạt được. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm yêu cầu đề cao trách nhiệm, vừa tạo cơ sở phân biệt giữa hành vi né tránh, thiếu trách nhiệm với những khó khăn, rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ một cách nghiêm túc và đúng quy định.
Bốn là, từ kinh nghiệm cá nhân sang phương pháp làm việc khoa học, sát thực tiễn và có khả năng thích ứng.
Trong điều kiện nhiệm vụ ngày càng đa dạng và xuất hiện những vấn đề mới, kinh nghiệm thực tiễn vẫn có giá trị nhưng không thể thay thế việc nghiên cứu, phân tích và tổng kết thực tiễn. Đổi mới tác phong công vụ đòi hỏi cán bộ hình thành thói quen làm việc trên cơ sở thông tin đầy đủ, phân tích căn cứ, đánh giá các phương án và dự liệu những tác động có thể phát sinh; đồng thời thường xuyên kiểm nghiệm kết quả thực hiện để điều chỉnh cách làm khi cần thiết.
Yêu cầu này càng có ý nghĩa trong quá trình chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản trị. Việc sử dụng dữ liệu, công cụ số và các phương thức quản lý hiện đại có thể nâng cao chất lượng tham mưu, điều hành và kiểm tra kết quả, nhưng không thay thế trách nhiệm của người cán bộ. Cốt lõi của đổi mới tác phong vẫn là năng lực vận dụng thông tin, tri thức và kinh nghiệm vào những điều kiện cụ thể, qua đó lựa chọn cách thức hành động phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Năm là, từ thực hiện công vụ đúng chức trách sang thực hiện công vụ gắn với lợi ích chung và trách nhiệm phục vụ Nhân dân.
Tinh thần “dám hành động vì lợi ích chung” trong Chỉ thị 07-CT/TW đặt vấn đề mục đích của hành động công vụ bên cạnh yêu cầu về bản lĩnh và trách nhiệm. Quyền hạn và nhiệm vụ được giao phải được sử dụng nhằm thực hiện chức trách, bảo đảm lợi ích chung và phục vụ Nhân dân; do đó, tác phong công vụ cần được thể hiện ở sự công tâm, trách nhiệm, gần dân, lắng nghe và tôn trọng ý kiến chính đáng của người dân, doanh nghiệp trong quá trình giải quyết công việc.
Ở phương diện này, hiệu quả thực thi công vụ không chỉ được xem xét từ góc độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, mà còn từ tác động thực tế của kết quả đó đối với đối tượng phục vụ. Tuy nhiên, lợi ích chung không thể được xác định theo ý chí chủ quan của cá nhân và càng không thể trở thành lý do để vượt qua giới hạn của pháp luật, thẩm quyền hoặc nguyên tắc kiểm soát quyền lực. Vì vậy, tinh thần dám nghĩ, dám làm và dám hành động vì lợi ích chung chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt trong sự thống nhất giữa bản lĩnh hành động, trách nhiệm công vụ, kỷ luật, kỷ cương và kiểm soát quyền lực.
3. Giải pháp đổi mới tác phong công vụ của cán bộ, đảng viên
Một là, gắn việc học tập, thực hành phương pháp Hồ Chí Minh với yêu cầu thực hiện chức trách, nhiệm vụ
Việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh cần được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với chức trách và nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Trọng tâm không chỉ là nâng cao nhận thức về những giá trị của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, mà còn phải hình thành năng lực vận dụng những giá trị đó trong xử lý các vấn đề cụ thể.
Nội dung giáo dục, bồi dưỡng cần tăng cường nghiên cứu tình huống, phân tích vấn đề thực tiễn, thảo luận phương án xử lý, tổng kết kinh nghiệm và đối thoại về những khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Qua đó, việc học tập được gắn với rèn luyện năng lực nhận diện vấn đề, tư duy độc lập, lựa chọn phương án và tổ chức thực hiện.
Hai là, xây dựng và cụ thể hóa chuẩn mực tác phong công vụ phù hợp với từng nhóm vị trí, chức danh
Tác phong công vụ chỉ có thể trở thành chuẩn mực thực chất khi được cụ thể hóa thành những yêu cầu có khả năng nhận diện và đánh giá. Những phẩm chất như chủ động, trách nhiệm, khoa học, gần dân, đổi mới và hiệu quả cần được chuyển hóa thành các tiêu chí và biểu hiện hành vi phù hợp với từng vị trí công tác.
Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần chú trọng năng lực quyết định, tổ chức thực hiện, phân công, kiểm tra và chịu trách nhiệm. Đối với cán bộ tham mưu, cần đề cao năng lực nghiên cứu, phân tích, dự báo, phản biện và đề xuất phương án. Đối với cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phục vụ người dân, tổ chức và doanh nghiệp, cần chú trọng tính công khai, minh bạch, kịp thời, đúng pháp luật và hiệu quả trong giải quyết công việc.Việc cụ thể hóa chuẩn mực phải gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và phản hồi để tạo sự thống nhất giữa yêu cầu về tác phong và thực tiễn thực hiện chức trách.
Ba là, đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng coi trọng kết quả, hiệu quả và trách nhiệm cá nhân
Đánh giá cán bộ cần khắc phục xu hướng nặng về hồ sơ, quy trình và thành tích, chuyển mạnh sang xem xét phẩm chất, năng lực thực hiện nhiệm vụ và kết quả thực tế. Trong đó, mức độ chủ động giải quyết vấn đề, khả năng tổ chức thực hiện, tinh thần chịu trách nhiệm và hiệu quả công việc cần được coi là những căn cứ quan trọng.
Đặc biệt, đánh giá cán bộ phải có khả năng phân biệt giữa trì trệ, né tránh trách nhiệm với đổi mới, sáng tạo có rủi ro khách quan. Nếu không có sự phân biệt này, cơ chế đánh giá có thể vô tình tạo ra tâm lý phòng thủ và làm suy giảm động lực hành động. Ngược lại, đánh giá đúng sẽ tạo cơ sở để sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực, khuyến khích người có năng lực đổi mới và đồng thời xử lý những trường hợp thiếu trách nhiệm, trì trệ hoặc né tránh.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo gắn với tăng cường kiểm soát quyền lực
Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện môi trường công vụ theo hướng khuyến khích hành động. Vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay là tiếp tục cụ thể hóa cơ chế này để cán bộ có cơ sở nhận diện phạm vi được phép đổi mới, cách thức đề xuất, thực hiện và đánh giá những sáng kiến, giải pháp mới.
Cùng với cơ chế bảo vệ phải là cơ chế kiểm soát. Quyền lực được trao càng lớn thì yêu cầu trách nhiệm giải trình và kiểm tra, giám sát càng cao. Cần xác định rõ ranh giới giữa đổi mới vì lợi ích chung với việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn; giữa rủi ro khách quan của sáng tạo với vi phạm do chủ quan, thiếu trách nhiệm; giữa quyết đoán trong thực hiện nhiệm vụ với hành vi tùy tiện.
Sự kết hợp giữa khuyến khích và kiểm soát sẽ tạo ra môi trường trong đó cán bộ có thể chủ động hành động nhưng vẫn nhận thức đầy đủ giới hạn quyền lực và trách nhiệm của mình.
Năm là, phát huy trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu trong xây dựng văn hóa công vụ
Người đứng đầu có ảnh hưởng trực tiếp đến phương thức vận hành và chuẩn mực hành động của cơ quan, tổ chức. Do đó, đổi mới tác phong công vụ trước hết phải được thể hiện trong phương pháp lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện của người đứng đầu.
Nêu gương không chỉ thể hiện ở việc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ mà còn ở khả năng quyết định, chịu trách nhiệm, tạo điều kiện cho cán bộ phát huy sáng kiến, bảo vệ những cách làm đúng và xử lý nghiêm những biểu hiện lợi dụng quyền hạn. Người đứng đầu cần xây dựng môi trường trong đó cán bộ có thể đề xuất chính kiến, phản biện trên cơ sở khoa học, chủ động thực hiện nhiệm vụ và được đánh giá công bằng trên cơ sở kết quả.
Cùng với đó, cần tiếp tục đổi mới phương thức quản lý công việc theo hướng xác định rõ mục tiêu, tiến độ, trách nhiệm, thẩm quyền và kết quả đầu ra của từng nhiệm vụ. Khi trách nhiệm được xác định rõ, quyền hạn được trao tương xứng và kết quả được đánh giá thực chất, tác phong chủ động, sáng tạo mới có điều kiện trở thành một chuẩn mực bền vững trong hoạt động công vụ.
Đổi mới tác phong công vụ là một yêu cầu có tính tất yếu trong quá trình thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị, bởi tác phong công vụ là một trong những phương diện trực tiếp phản ánh mức độ chuyển hóa tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh vào hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Từ phương pháp Hồ Chí Minh, có thể xác định những yêu cầu cơ bản đối với tác phong công vụ trong giai đoạn mới là xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm cá nhân, gần dân, trọng dân, làm việc khoa học, thiết thực và hướng đến hiệu quả. Những yêu cầu đó cần được chuyển hóa thành những biến đổi cụ thể trong phương thức thực thi công vụ, từ tư duy thiên về an toàn sang chủ động giải quyết vấn đề; từ cách tiếp cận nặng về hoàn thành quy trình sang quản trị kết quả; từ trách nhiệm theo phần việc sang trách nhiệm gắn với thẩm quyền, quyết định và kết quả; từ phương thức xử lý dựa nhiều vào kinh nghiệm sang phương pháp khoa học, dựa trên thực tiễn; từ thực thi quyền lực theo quan hệ hành chính sang thực thi quyền lực vì Nhân dân và chịu sự kiểm soát của pháp luật, tổ chức và xã hội.
Trong quá trình đó, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và hành động vì lợi ích chung cần được nhìn nhận như một biểu hiện tập trung của bản lĩnh hành động của người cán bộ. Tuy nhiên, bản lĩnh hành động chỉ có giá trị khi được đặt trong sự thống nhất với nguyên tắc và kỷ luật. Dám nghĩ phải dựa trên nhận thức đúng và căn cứ thực tiễn; dám làm phải gắn với thẩm quyền và pháp luật; dám chịu trách nhiệm phải gắn với trách nhiệm giải trình; đổi mới, sáng tạo phải hướng đến lợi ích chung và chịu sự kiểm soát quyền lực.
Thực hiện yêu cầu đó sẽ góp phần hình thành một tác phong công vụ mới, trong đó tính chủ động được nâng lên trên nền tảng khoa học, tinh thần hành động được đặt trong khuôn khổ kỷ luật, trách nhiệm cá nhân được gắn với thẩm quyền và kết quả, còn mọi hoạt động công vụ đều hướng đến mục tiêu phục vụ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh thực sự đi vào chiều sâu, trở thành động lực nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong giai đoạn phát triển mới.
Đại tá, TS Tống Văn Khuông - Phó Giám đốc Học viện, T03
Thượng tá, TS Tống Thị Nga – PTK3, T03
Thiếu tá Nguyễn Thị Ngọc Lan - GVK3, T03
KỲ 3: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN: ĐỘNG LỰC ĐỘT PHÁ THỰC THI CHỈ THỊ 07-CT/TW TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH