Lý luận chính trị
Thứ Bảy, 12/9/2026 8:37'(GMT+7)

THỰC HÀNH TƯ TƯỞNG BÁC HỒ – ĐỘNG LỰC BỨT PHÁ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Nhằm kịp thời quán triệt, đưa Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/07/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” vào cuộc sống, Trang thông tin điện tử - Học viện Chính trị Công an nhân dân trân trọng giới thiệu đến quý độc giả loạt 03 bài viết xoay quanh Chỉ thị quan trọng nói trên:
Kỳ 1: Từ “làm theo” sang “thực hành” – Chuyển mạnh tư duy nêu gương trong kỷ nguyên mới: Phân tích bước ngoặt lý luận mang tính đột phá của Chỉ thị 07-CT/TW; làm rõ vì sao phải chuyển mạnh từ nhận thức sang hành động thực chất và nâng cao vai trò nêu gương của người đứng đầu.
Kỳ 2: Đổi mới tác phong công vụ – Dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung: Gắn thực hành tư tưởng Bác với cải cách hành chính; tháo gỡ tâm lý “co cụm”, sợ sai; đề xuất giải pháp bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì sự phát triển chung.
Kỳ 3: Ứng dụng công nghệ số và phát huy vai trò giám sát của Nhân dân - Động lực đột phá thực thi Chỉ thị 07-CT/TW trong kỷ nguyên vươn mình: Đề xuất các giải pháp đột phá về truyền thông số, ứng dụng AI để lan tỏa di sản của Bác; đồng thời phát huy sức mạnh lòng dân trong kiểm tra, giám sát hiệu quả thực thi công vụ.

KỲ 1: TỪ “LÀM THEO” SANG “THỰC HÀNH” – CHUYỂN MẠNH TƯ DUY NÊU GƯƠNG TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Ngày 13/7/2026, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Sự ra đời của Chỉ thị trong thời điểm đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện bước phát triển trong nhận thức và tư duy lãnh đạo của Đảng đối với việc học tập, vận dụng di sản Hồ Chí Minh.
Nếu Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị tạo nên một bước chuyển mạnh trong việc đưa học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành nội dung thường xuyên trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, thì Chỉ thị số 07-CT/TW tiếp tục nâng tầm yêu cầu đó trong điều kiện mới. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở sự thay đổi cách diễn đạt từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành”, mà sâu xa hơn là sự chuyển đổi về tư duy hành động: từ nhận thức đến vận dụng, từ noi theo đến sáng tạo, từ cam kết đến sản phẩm, từ nêu khẩu hiệu đến nêu gương bằng hành động và kết quả cụ thể.
Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Bởi lẽ, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được khẳng định ở chiều sâu của hệ thống quan điểm, mà còn ở năng lực soi sáng và dẫn dắt hành động cách mạng. Trong kỷ nguyên phát triển mới, khi đất nước đặt ra yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, tự chủ, tự cường, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, yêu cầu đặt ra không phải chỉ là “biết” tư tưởng Hồ Chí Minh, “nhớ” những lời Người dạy, mà quan trọng hơn là biết vận dụng tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách của Người để giải quyết những vấn đề mới của thực tiễn.
1. Từ “làm theo” đến “thực hành” – Bước phát triển về tư duy hành động
Trong quá trình triển khai Chỉ thị số 05-CT/TW, việc “học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã trở thành một nội dung quan trọng trong sinh hoạt chính trị, tư tưởng của Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội. “Làm theo” đã góp phần đưa những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến gần hơn với cán bộ, đảng viên và Nhân dân; thúc đẩy quá trình tự giác tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng đặt ra một vấn đề cần thẳng thắn nhìn nhận: nếu “làm theo” chỉ được hiểu là mô phỏng một số hành vi, chuẩn mực bên ngoài hoặc dừng ở những nội dung đăng ký, cam kết, sinh hoạt chuyên đề, thì chưa thể phát huy đầy đủ giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong một số trường hợp, việc học tập có thể bị hành chính hóa, hình thức hóa; kết quả được phản ánh bằng số lượng buổi sinh hoạt, bản đăng ký, bài thu hoạch, báo cáo thành tích nhiều hơn là bằng sự chuyển biến trong chất lượng công việc và hiệu quả phục vụ Nhân dân. Chính vì vậy, “thực hành” cần được nhận thức như một cấp độ phát triển cao hơn của “làm theo”.
Theo tinh thần Chuyên đề toàn khóa Đại hội XIV, sự chuyển dịch này không đơn thuần là thay đổi thuật ngữ mà phản ánh bước phát triển mới về chất trong tư duy chỉ đạo, phương thức lãnh đạo, cầm quyền và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng. “Thực hành” đòi hỏi phải đưa tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu vào quá trình hoạch định chủ trương, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, giải quyết công việc và đánh giá kết quả. Nói cách khác, “thực hành” phải làm cho những giá trị của Hồ Chí Minh trở thành năng lực tư duy, năng lực hành động và chuẩn mực ứng xử thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên.
Sinh thời, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa học tập và hành động. Người yêu cầu học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn liền với thực tiễn, nói phải đi đôi với làm. Theo Người, học tập không phải để tích lũy tri thức một cách thuần túy, mà để nâng cao năng lực hành động cách mạng. Vì vậy, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không dẫn tới thay đổi trong tư duy, phương pháp và hành động thì chưa đạt được mục đích cuối cùng.
Từ góc nhìn đó, có thể hiểu “thực hành” trước hết là biến cái đã học thành cái đang làm; biến nhận thức thành hành động; biến chuẩn mực thành thói quen; biến phương pháp thành năng lực giải quyết công việc; biến đạo đức thành sự tự giác trong từng quyết định, từng ứng xử; và cuối cùng biến tất cả những điều đó thành kết quả cụ thể trong đời sống xã hội.
Thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh là đưa tư tưởng vào giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Điểm quan trọng cần nhấn mạnh là “thực hành” không đồng nghĩa với hành động theo cảm tính, cũng không phải là làm bất cứ điều gì nhân danh đổi mới. Thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết phải dựa trên sự hiểu đúng bản chất tư tưởng của Người, đồng thời biết vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể.
Đại hội XIV xác định các thành tố tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh có quan hệ thống nhất và tác động qua lại. Tư tưởng định hướng cho hành động; đạo đức tạo nền tảng và động cơ trong sáng; phương pháp là cách thức hiện thực hóa tư tưởng và đạo đức; phong cách là sự biểu hiện sinh động của những giá trị đó trong tư duy, lề lối làm việc, ứng xử và sinh hoạt hằng ngày. Do đó, thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh không thể tách rời thực hành đạo đức, phương pháp và phong cách của Người.
Trong điều kiện đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, điều này càng có ý nghĩa. Những vấn đề đặt ra đối với đất nước ngày nay có nhiều điểm rất khác so với trước đây: phát triển khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo; chuyển đổi số; đổi mới mô hình quản trị; hội nhập quốc tế sâu rộng; xử lý những vấn đề mới phát sinh từ kinh tế thị trường; bảo đảm an ninh con người, an ninh mạng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; củng cố niềm tin của Nhân dân…
Đó là phương pháp lý luận gắn liền với thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan; xác định đúng mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ trọng tâm; biết tạo lực, lập thế, nắm bắt thời cơ; biết kết hợp giữa kiên định nguyên tắc với linh hoạt, sáng tạo trong sách lược; biết phát huy sức mạnh của Nhân dân; biết dùng cán bộ đúng và phát huy vai trò của cán bộ; đồng thời kết hợp nêu gương với tự phê bình và phê bình.
2. Trách nhiệm nêu gương – Phương thức “thực hành” hiệu quả và thuyết phục nhất
Trong toàn bộ di sản Hồ Chí Minh, nêu gương là một phương thức giáo dục, lãnh đạo và vận động quần chúng có sức thuyết phục đặc biệt. Người không chỉ nói về đạo đức mà chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là một tấm gương mẫu mực về đạo đức, trách nhiệm, ý chí, phong cách và phương pháp hành động.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Giá trị của lời dạy này không chỉ nằm ở phương diện giáo dục đạo đức. Sâu xa hơn, đó là một quan niệm về phương thức tạo dựng niềm tin và tổ chức hành động. Con người có thể bị thuyết phục bởi một lập luận đúng, nhưng sẽ được củng cố niềm tin mạnh mẽ hơn khi nhìn thấy điều đúng ấy được hiện thực hóa bằng hành động của người lãnh đạo. Vì thế, nêu gương phải được nhìn nhận như một phương pháp lãnh đạo, một phương pháp giáo dục và một phương thức tổ chức thực hiện có sức lan tỏa sâu rộng.
Đại hội XIV xác định phương pháp nêu gương kết hợp với tự phê bình và phê bình là một trong những nội dung cốt lõi của phương pháp Hồ Chí Minh. Điều đó cho thấy, khi chuyển từ “làm theo” sang “thực hành”, yêu cầu nêu gương càng phải được đặt ở vị trí quan trọng. Bởi nếu người lãnh đạo yêu cầu cấp dưới đổi mới nhưng bản thân không đổi mới; yêu cầu cán bộ sâu sát cơ sở nhưng mình chỉ làm việc trên báo cáo; yêu cầu tiết kiệm nhưng sử dụng nguồn lực thiếu hiệu quả; yêu cầu nói đi đôi với làm nhưng bản thân nói nhiều, làm ít; yêu cầu cán bộ dám chịu trách nhiệm nhưng lại né tránh trách nhiệm khi có vấn đề phát sinh, thì mọi lời tuyên truyền về học tập theo Hồ Chí Minh đều khó có sức thuyết phục.
Ngược lại, khi người đứng đầu thực sự tiên phong trong việc khó, việc mới; dám chịu trách nhiệm; dám nhận khuyết điểm; tôn trọng tập thể; lắng nghe cấp dưới; gần dân, trọng dân; quyết liệt tháo gỡ những điểm nghẽn; nói ít, làm nhiều và lấy hiệu quả công việc làm thước đo, thì chính hành động ấy trở thành một phương thức giáo dục trực tiếp đối với cán bộ, đảng viên. Nêu gương vì thế không phải là tạo dựng một hình ảnh đẹp về người cán bộ, mà là tạo dựng một chuẩn mực hành động có thể kiểm chứng trong thực tiễn.
Người đứng đầu phải là người “thực hành” trước. Trong mọi tổ chức, vai trò của người đứng đầu có ảnh hưởng đặc biệt đến việc hình thành văn hóa hành động. Một tổ chức có thể có rất nhiều quy định, quy trình, khẩu hiệu và kế hoạch, nhưng chất lượng thực hiện phụ thuộc rất lớn vào thái độ, phương pháp và tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu. Vì vậy, chuyển từ “làm theo” sang “thực hành” trước hết phải bắt đầu từ người đứng đầu.
Nêu gương phải được thể hiện trong cách người đứng đầu lựa chọn ưu tiên công việc; trong cách sử dụng thời gian; trong thái độ trước khó khăn; trong việc nhận trách nhiệm; trong cách đối thoại với cán bộ, đảng viên và Nhân dân; trong khả năng quyết đoán khi cần thiết và biết lắng nghe khi cần thiết. Đặc biệt, trong kỷ nguyên mới, người đứng đầu càng phải nêu gương về tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Một trong những yêu cầu của thực hành phương pháp Hồ Chí Minh là biết xuất phát từ thực tiễn, phát hiện đúng vấn đề, lựa chọn đúng trọng tâm và tổ chức thực hiện quyết liệt. Điều đó đòi hỏi người đứng đầu phải tránh hai khuynh hướng: một là bảo thủ, trì trệ, chỉ làm theo lối cũ; hai là đổi mới tùy tiện, thiếu căn cứ, thiếu kiểm soát.
Tinh thần Hồ Chí Minh là kiên định về mục tiêu, nguyên tắc nhưng linh hoạt, sáng tạo về phương pháp. Đây chính là giá trị phương pháp luận đặc biệt cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Người đứng đầu phải là người nhìn thấy vấn đề trước, nhận trách nhiệm trước và hành động trước. Khi tổ chức đứng trước một nhiệm vụ khó, người đứng đầu không thể chỉ yêu cầu cấp dưới “phải quyết liệt”, mà chính mình phải thể hiện sự quyết liệt. Khi đơn vị cần đổi mới, người đứng đầu phải là người sẵn sàng thay đổi trước. Khi có khuyết điểm, người đứng đầu phải nghiêm túc tự soi, tự sửa trước khi yêu cầu cấp dưới khắc phục.
Đó là nêu gương bằng hành động - “Thực hành” để vượt qua bệnh hình thức. Một trong những ý nghĩa quan trọng nhất của chuyển từ “làm theo” sang “thực hành” là góp phần khắc phục bệnh hình thức. Bệnh hình thức trong học tập và làm theo Bác có thể biểu hiện dưới nhiều dạng: đăng ký nội dung chung chung, sao chép, rập khuôn; xây dựng kế hoạch nhưng thiếu tổ chức thực hiện; báo cáo thành tích nhiều nhưng ít đánh giá những hạn chế; tổ chức nhiều hoạt động nhưng chưa quan tâm đầy đủ đến kết quả; coi số lượng cuộc họp, bài viết, bản cam kết là tiêu chí chủ yếu để đánh giá.
Nêu gương phải bắt đầu từ “trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân”. Nếu chỉ hiểu nêu gương là cán bộ tự rèn luyện bản thân thì chưa đầy đủ. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mọi phẩm chất của người cán bộ cuối cùng đều hướng tới mục tiêu phục vụ Nhân dân. Người nhiều lần nhấn mạnh cán bộ là người phục vụ Nhân dân, phải gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân. Bởi vậy, thước đo cao nhất của nêu gương không phải là hình ảnh của cán bộ trong cơ quan, mà là niềm tin và sự hài lòng của Nhân dân đối với kết quả công việc mà cán bộ thực hiện.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân. Đối với lực lượng CAND, thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh không thể tách rời yêu cầu xây dựng lực lượng thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; xây dựng phong cách ứng xử văn hóa, trách nhiệm; gần dân, trọng dân, dựa vào Nhân dân để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự.
Trong môi trường đó, nêu gương của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy càng có ý nghĩa trực tiếp. Người chỉ huy phải là người giữ vững nguyên tắc, công tâm, khách quan, sâu sát cán bộ, chiến sĩ; dám chịu trách nhiệm; quan tâm đến cơ sở; chủ động giải quyết những vấn đề phát sinh; đồng thời phải thực sự là tấm gương về kỷ luật, kỷ cương, đạo đức công vụ và tinh thần phục vụ Nhân dân. Đó là cách thiết thực để đưa tư tưởng Hồ Chí Minh từ giảng đường, hội nghị, sinh hoạt chuyên đề vào đời sống công tác hằng ngày.
Từ “nêu gương cá nhân” đến “văn hóa nêu gương” trong tổ chức. Một yêu cầu sâu hơn của Chỉ thị số 07-CT/TW là không chỉ tạo ra những cá nhân nêu gương, mà phải từng bước hình thành văn hóa nêu gương trong tổ chức. Văn hóa nêu gương là khi mỗi cán bộ tự giác đặt mình dưới những chuẩn mực đạo đức; khi người có chức vụ càng cao càng ý thức rõ trách nhiệm nêu gương, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung được khuyến khích, bảo vệ và nhân rộng; khi những biểu hiện né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm bị nhận diện và chấn chỉnh. Muốn vậy, cần xây dựng môi trường trong đó nêu gương không phải là một yêu cầu mang tính phong trào mà trở thành chuẩn mực của văn hóa lãnh đạo và văn hóa công vụ.
Thực hành để tạo ra động lực phát triển trong kỷ nguyên mới. Kỷ nguyên phát triển mới đặt đất nước trước những yêu cầu chưa từng có về tốc độ, chất lượng và năng lực thích ứng. Trong bối cảnh đó, nguồn lực vật chất rất quan trọng nhưng chưa đủ. Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững cần một nguồn lực tinh thần mạnh mẽ: bản lĩnh, niềm tin, kỷ luật, khát vọng, tinh thần trách nhiệm và khả năng biến chủ trương thành hành động. Ở phương diện này, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục cung cấp những giá trị phương pháp luận có ý nghĩa lâu dài.
Thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cách biến những giá trị đó thành năng lực nội sinh của tổ chức và con người Việt Nam. Đó là biến tinh thần độc lập, tự chủ thành năng lực tự chủ trong tư duy và hành động; biến khát vọng cống hiến thành động lực làm việc; biến đạo đức cách mạng thành sức đề kháng trước chủ nghĩa cá nhân; biến phương pháp khoa học thành năng lực giải quyết vấn đề; biến phong cách gần dân, trọng dân thành văn hóa phục vụ Nhân dân.
Vì vậy, chuyển từ “làm theo” sang “thực hành” không phải là phủ định những kết quả của quá trình học tập và làm theo Bác trong thời gian qua. Trái lại, đó là sự kế thừa, phát triển và nâng tầm để những kết quả đã đạt được đi vào chiều sâu hơn, thực chất hơn. “Làm theo” tạo nền tảng cho “thực hành”; “học tập” tạo cơ sở cho “hành động”; “nêu gương” tạo sức lan tỏa để hành động trở thành phong trào và chuẩn mực chung.
Như vậy, chuyển từ “làm theo” sang “thực hành” là một bước phát triển quan trọng trong tư duy chỉ đạo việc học tập và vận dụng tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh. Cốt lõi của bước chuyển ấy là đưa những giá trị đã được nhận thức thành hành động có mục tiêu, có phương pháp, có kết quả và có khả năng kiểm chứng trong thực tiễn. Trong quá trình đó, nêu gương giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Khi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, biến việc thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh thành một nhu cầu tự thân, thành tự trọng nghề nghiệp, thành trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân và trước chính mình; khi nói đi đôi với làm trở thành chuẩn mực; khi nêu gương trở thành phương thức lãnh đạo; khi kết quả công việc và sự hài lòng của Nhân dân trở thành thước đo quan trọng của hiệu quả thực thi nhiệm vụ, thì tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ thực sự hiện diện trong đời sống đương đại bằng một sức sống mới. Đó cũng chính là ý nghĩa sâu xa của việc chuyển từ “làm theo” sang “thực hành”: không dừng lại ở việc giữ gìn một di sản tư tưởng quý báu, mà làm cho di sản ấy tiếp tục soi sáng cách nghĩ, cách làm và cách hành động của con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Đại tá, TS Tống Văn Khuông - Phó Giám đốc Học viện, T03
Thượng tá, TS Tống Thị Nga – PTK3, T03 
Thiếu tá, TS Hoàng Thị Huyền - GVK3, T03

KỲ 2: ĐỔI MỚI TÁC PHONG CÔNG VỤ - DÁM NGHĨ, DÁM LÀM VÌ LỢI ÍCH CHUNG


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
3. Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/07/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”.

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất