Lý luận chính trị
Thứ Ba, 29/9/2026 20:50'(GMT+7)

100 NĂM ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1930 - 2030) – BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ VÀ KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

Trong dòng chảy liên tục của lịch sử dân tộc Việt Nam, có những mốc son không chỉ đánh dấu một thời điểm, mà làm thay đổi vĩnh viễn vận mệnh của cả một quốc gia. Mùa xuân năm 1930, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là một mốc son như thế - ngọn đuốc xua tan đêm đen khủng hoảng đường lối, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và phát triển cho dân tộc.
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930. Ảnh chụp lại tranh của họa sĩ Phi Hoanh (Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Hướng tới kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2030) và tiến tới 100 năm thành lập Nước (1945 – 2045), nhìn lại chặng đường một thế kỷ không chỉ để tự hào về những chiến công hiển hách hay những kỳ tích Đổi mới. Quan trọng hơn, đó là cuộc đối thoại giữa quá khứ, hiện tại và tương lai - để thấu hiểu cội nguồn sức mạnh, rút ra những bài học xương máu và thắp sáng khát vọng vươn mình trong thời đại mới. Trang thông tin điện tử Học viện Chính trị Công an nhân dân trân trọng gửi đến quý độc giả chùm bài viết với tựa đề “100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930-2030) - Bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng hùng cường”.
KỲ 1: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI (3/2/1030) - SỨ MỆNH LỊCH SỬ VÀ BƯỚC NGOẶT THỜI ĐẠI 
 
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 là kết quả tất yếu của quá trình kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây không đơn thuần là sự ra đời của một tổ chức chính trị, mà là một bước ngoặt trong lịch sử tư tưởng - lý luận và đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng đường lối kéo dài để mở ra chặng đường phát triển hoàn toàn mới, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
1. Khủng hoảng đường lối cứu nước và khảo nghiệm của lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 
Ngày 1/9/1958, thực dân Pháp nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, mở đầu quá trình xâm lược và biến Việt Nam thành nước thuộc địa, phong kiến. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi, giai cấp mới ra đời, giai tầng cũ tiếp tục phân hoá sâu sắc. Xã hội nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn dân tộc giữa toàn thể nhân dân với chủ nghĩa thực dân và mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân với địa chủ phong kiến đan xen, cộng hưởng và ngày càng gay gắt. Xuất phát từ tính chất xã hội Việt Nam lúc đó dẫn đến yêu cầu vừa thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược vừa giải quyết nhiệm vụ dân chủ, xóa bỏ những quan hệ áp bức, bất công tồn tại ngay trong lòng xã hội thuộc địa.
Trong bối cảnh ấy, phong trào yêu nước Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã phát triển phong phú về hình thức, từ đấu tranh vũ trang mang màu sắc "giúp vua cứu nước" như phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng, đến các khuynh hướng cải cách và bạo động theo khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX của hai cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Mặc dù các văn thân, sĩ phu yêu nước đã hi sinh anh dũng, bản lĩnh dấn thân, tiến bộ và cách mạng, nhưng tất các các phong trào đấu tranh đó lại có chung một kết cục là lần lượt thất bại. Nguyên nhân sâu xa ở bình diện hệ tư tưởng và phương thức tổ chức lực lượng: các phong trào theo khuynh hướng phong kiến bị giới hạn bởi một hệ tư tưởng đã lỗi thời, không còn khả năng lý giải và đáp ứng những đòi hỏi của một xã hội đang chuyển động theo quỹ đạo mới của thời đại; trong khi các phong trào theo khuynh hướng dân chủ tư sản, dù đã tiếp cận những tư tưởng chính trị tiến bộ hơn, lại vấp phải một hạn chế mang tính bản chất của giai cấp lãnh đạo: thiếu một cương lĩnh cách mạng khoa học, thiếu một phương thức tổ chức chặt chẽ và do đó không thể huy động, tập hợp được sức mạnh của đông đảo quần chúng công nông - lực lượng xã hội đông đảo nhất và cũng chịu áp bức nặng nề nhất trong xã hội thuộc địa.
Nhìn một cách khái quát, sự thất bại nối tiếp của các khuynh hướng cứu nước khác nhau đã bộc lộ một cuộc khủng hoảng có tính hệ thống, đó là sự khủng hoảng tư duy chính trị, về giai cấp lãnh đạo và về phương thức tổ chức lực lượng cách mạng. Đó thực chất là do hạn chế của giai cấp và thời đại, khi những hệ tư tưởng cũ - dù là hệ tư tưởng phong kiến hay hệ tư tưởng dân chủ tư sản kiểu phương Tây đều tỏ ra bất lực trước bài toán giải phóng một dân tộc thuộc địa. Chính cuộc khủng hoảng ấy đã đặt ra một yêu cầu lịch sử mang tính tất yếu khách quan: dân tộc Việt Nam cần một vũ khí lý luận cách mạng khoa học, tiên tiến và một giai cấp lãnh đạo mới, gắn bó hữu cơ với xu thế phát triển của thời đại, mới có thể chỉ ra và tổ chức thực hiện thành công con đường giải phóng. Đây chính là tiền đề lịch sử - lý luận trực tiếp cho sự xuất hiện của khuynh hướng cứu nước theo con đường cách mạng vô sản.
2. Nguyễn Ái Quốc và tư duy chiến lược đối với cách mạng Việt Nam 
Ngày 5/6/1911, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Nguyễn Văn Ba ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Sài Gòn. Giá trị đặc biệt trong hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc không nằm ở việc Người là người đầu tiên rời Tổ quốc ra đi, mà nằm ở phương pháp tiếp cận hoàn toàn khác biệt so với các bậc tiền bối. Trong khi nhiều nhà yêu nước đương thời hướng ra bên ngoài để tìm sự trợ giúp hoặc mô phỏng những mô hình cách mạng có sẵn, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường khảo nghiệm thực tiễn, trực tiếp sống, lao động và quan sát nhiều thể chế chính trị, nhiều cuộc cách mạng khác nhau trên thế giới để tự mình rút ra chân lý, thay vì tiếp nhận một cách thụ động, giáo điều. Chính phương pháp tư duy độc lập, gắn lý luận với khảo nghiệm thực tiễn ấy đã tạo nên bước ngoặt trong nhận thức của Người. Tháng 7/1920, Người tiếp cận luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, đó là sự gặp gỡ giữa khát vọng giải phóng dân tộc mãnh liệt của một thanh niên Việt Nam yêu nước với học thuyết cách mạng đặt vấn đề giải phóng dân tộc trong mối liên hệ biện chứng với vấn đề giải phóng giai cấp và giải phóng con người trên phạm vi toàn thế giới. Người tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam, tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba. 
Từ bước ngoặt nhận thức đó, quá trình chuẩn bị cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng kiểu mới ở Việt Nam được Nguyễn Ái Quốc và các chiến sĩ cộng sản tiến hành nghiêm túc, có hệ thống trên cả ba phương diện tư tưởng, chính trị và tổ chức, khác với các hoạt động rời rạc, tự phát trong phong trào yêu nước trước đó. Về thực chất, đây là một quá trình tiếp thu có chọn lọc và vận dụng sáng tạo, chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá không phải như một lý thuyết trừu tượng, mà luôn được gắn kết chặt chẽ với thực tiễn phong trào yêu nước và phong trào công nhân trong nước, thông qua báo chí, các tác phẩm lý luận và đặc biệt là trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cách mạng bản địa đầu tiên. Sự ra đời của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1925 với hạt nhân là những chiến sĩ cộng sản được huấn luyện, đào tạo tại các lớp học ở Quảng Châu (Trung Quốc), cùng chủ trương “vô sản hoá”, đưa cán bộ thâm nhập vào phong trào công nhân, là biểu hiện sinh động của quá trình chuẩn bị về tổ chức, cán bộ, coi công tác cán bộ là khâu then chốt để xây dựng lực lượng cách mạng. 
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản vào cuối những năm 1920 tất yếu dẫn tới sự xuất hiện của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Một mặt, sự ra đời của các tổ chức cộng sản phản ánh sự chín muồi khách quan của phong trào cách mạng và sự trưởng thành về nhận thức chính trị của những người cộng sản Việt Nam; mặt khác, bộc lộ hạn chế lịch sử tất yếu của giai đoạn quá độ, bộc lộ tình trạng phân tán về tổ chức, thiếu một trung tâm lãnh đạo thống nhất, tiềm ẩn nguy cơ gây chia rẽ, mất đoàn kết trong phong trào cách mạng nếu không được khắc phục kịp thời.
Trong thời điểm cách mạng Việt Nam khó khăn, vai trò của Nguyễn Ái Quốc càng thể hiện rõ tầm vóc của một nhà lãnh đạo chiến lược. Bằng uy tín chính trị, bản lĩnh và nghệ thuật quy tụ lực lượng, Người đã chủ động triệu tập Hội nghị thành lập Đảng tại Cửu Long (Hương Cảng), Trung Quốc từ ngày 6/1/1930 đến ngày 8/2/1930. Tại Hội nghị này, Người chủ trì hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam có giá trị, tầm vóc to lớn về tư tưởng chính trị và công tác xây dựng đảng của một Đại hội Đảng, là mốc son đánh dấu sự trưởng thành của phong trào cách mạng Việt Nam, là bước ngoặt của lịch sử cách mạng Việt Nam. Hội nghị là kết quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng cách mạng Nguyễn Ái Quốc với phong trào yêu nước và phong trào công nhân. Kết quả Hội nghị thành lập Đảng khẳng định uy tín, trí tuệ, sự chủ động, bản lĩnh và sự sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. 
3. Cương lĩnh chính trị đầu tiên – kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam 
Hội nghị thành lập Đảng thống nhất các nội dung quan trọng: Thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. thông qua các văn kiện do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, đó là: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng. Trong đó, Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, hợp thành Cương lĩnh chính trị (2-1930) của Đảng. 
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng khẳng định mục tiêu và con đường của cách mạng Việt Nam: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam. Về lý luận dẫn đường, Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin. Lực lượng cách mạng gồm toàn bộ những người Việt Nam yêu nước. Về phương pháp cách mạng, Đảng chủ trương dùng phương pháp cách mạng bạo lực. Về xây dựng xã hội mới, Đảng chủ trương xây dựng trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội. Về quan hệ quốc tế, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng nêu rõ phải thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp.
Lần đầu tiên, cách mạng Việt Nam có một Cương lĩnh chính trị phản ánh đúng quy luật khách quan, đáp ứng được những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với đa số nguyện vọng của nhân dân, xu thế của thời đại, định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên phán ánh ngắn gọn, súc tích những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đồng thời thể hiện tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh tư duy độc lập, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong việc vận dụng học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cụ thể của cách mạng nước ra. 
Về lý luận, đóng góp sáng tạo nổi bật nhất của Cương lĩnh là việc xác định con đường phát triển của cách mạng Việt Nam, tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc để tiến lên xã hội chủ nghĩa, thực hiện hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, đặt cơ sở tiền đề cho mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội xuyên suốt các chặng đường của cách mạng Việt Nam. Phương hướng chiến lược này thể hiện tư duy biện chứng, không tuyệt đối hóa bất kỳ một mô hình cách mạng có sẵn, mà xuất phát từ đặc điểm kinh tế - xã hội của một nước thuộc địa phương Đông để hoạch định con đường phát triển riêng, phù hợp. Cùng với đó, Cương lĩnh xử lý mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp thông qua chủ trương xây dựng một mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi trên cơ sở liên minh công nông làm nòng cốt, đồng thời tranh thủ hoặc trung lập hóa các lực lượng xã hội trung gian, phản ánh nhãn quan chính trị linh hoạt, đặt mục tiêu giải phóng dân tộc lên hàng đầu mà không rơi vào biệt phái, hẹp hòi giai cấp.
Cương lĩnh đầu tiên xây dựng trên một nền tảng lý luận vững chắc và một phương pháp luận biện chứng nên những giá trị cốt lõi của Cương lĩnh không dừng lại ở ý nghĩa của một văn kiện lịch sử, mà tiếp tục được kế thừa, bổ sung và phát triển xuyên suốt các cương lĩnh, đường lối của Đảng qua từng chặng đường cách mạng. Đến nay, khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng, Đại hội XIV của Đảng (2026), tiếp tục khẳng định kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định nền tảng lý luận của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lên nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… đó chính là kiên định con đường mà Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã vạch ra và được thực tiễn khảo nghiệm.
4. Ý nghĩa lịch sử sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 
Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc và của cách mạng Việt Nam. Đảng ra đời chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo, từ đây, cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”, “chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”. Đặt trong bối cảnh cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam mang ý nghĩa vượt xa một sự kiện chính trị đơn thuần. Đó thực chất là lời giải đáp căn bản, có tính bước ngoặt cho câu hỏi lớn nhất mà lịch sử dân tộc đặt ra suốt nhiều thập kỷ: giải phóng dân tộc bằng con đường nào, dưới sự dẫn dắt của lực lượng nào? Từ một dân tộc đứng trước tình trạng bế tắc, mò mẫm và tự phát về đường lối, cách mạng Việt Nam kể từ đây đặt dưới sự lãnh đạo của một chính đảng cách mạng có lý luận khoa học dẫn đường, có tổ chức chặt chẽ và gắn bó máu thịt với nhân dân, mà nòng cốt là liên minh công nhân và nông dân.
Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đặt nền móng, cơ sở cho việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong nội bộ đảng và phát huy sức mạnh nội lực của đất nước. Đảng ra đời là một điều kiện tiên quyết đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc nói riêng, sự phát triển của đất nước Việt Nam nói chung. Trước năm 1930, các phong trào yêu nước vận động theo nhiều khuynh hướng khác nhau, thiếu một trung tâm quy tụ chung nên lực lượng dân tộc bị phân tán, dẫn đến phong trào đấu tranh thất bại. Cương lĩnh chính trị đầu tiên, khi xác định rõ công nông là gốc nhưng đồng thời chủ trương đoàn kết rộng rãi tiểu tư sản, trí thức, trung nông và tranh thủ các lực lượng yêu nước khác, đã lần đầu tiên đưa ra một cơ sở chính trị - xã hội để tập hợp toàn dân tộc dưới một ngọn cờ thống nhất. Việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất cũng là bài học thực tiễn đầu tiên về đoàn kết nội bộ, không có sự thống nhất ý chí, tổ chức trong Đảng thì không thể có hạt nhân đủ vững để quy tụ sức mạnh toàn dân. Đoàn kết dân tộc và đoàn kết trong Đảng trở thành nguồn sức mạnh nội lực, là điều kiện tiên quyết cho mọi thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc và quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời mở ra mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng vô sản thế giới, tạo cơ sở, điều kiện tiền đề cho quan hệ quốc tế của Đảng nói riêng, đoàn kết giữa Việt Nam với các Đảng Cộng sản, các nước trên thế giới nói riêng. Đồng thời minh chứng, khẳng định sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản, con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam vào quỹ đạo của phong trào cách mạng vô sản thế giới, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Do được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và ra đời với tư cách một bộ phận của phong trào cộng sản quốc tế, ngay từ đầu Đảng đã đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo chung của cách mạng vô sản thế giới - điều mà không một phong trào yêu nước đơn độc nào trước đó có được. Đây vừa là minh chứng thực tiễn cho tính đúng đắn của việc lựa chọn con đường cách mạng vô sản (phù hợp với xu thế thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội đang mở ra từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga), vừa là tiền đề để Việt Nam tranh thủ sự ủng hộ, đoàn kết quốc tế, thay vì đơn phương đối đầu với chủ nghĩa thực dân. Từ mối liên hệ này, quan hệ đối ngoại của Đảng với các đảng cộng sản, công nhân và các quốc gia trên thế giới sau này mới có được nền tảng chính trị - lý luận để hình thành và phát triển.
 Bốn là, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đáp ứng, giải quyết được đòi hỏi thực tiễn của cách mạng Việt Nam, tiếp tục khẳng định truyền thống yêu nước, khát vọng giải phóng của nhân dân và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Sự ra đời của Đảng là kết tinh biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước, trong đó truyền thống yêu nước là mạch nguồn xuyên suốt hàng nghìn năm lịch sử dân tộc. Điều đặc biệt là Đảng đã kế thừa và nâng tầm chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ đấu tranh tự phát, thiếu tổ chức sang đấu tranh tự giác, có tổ chức thống nhất, có lý luận khoa học dẫn đường, giải quyết đúng lúc yêu cầu cấp bách của thực tiễn là chấm dứt khủng hoảng đường lối. Chính sự gặp gỡ giữa yếu tố nội sinh (truyền thống dân tộc) với xu thế khách quan bên ngoài (thời đại cách mạng vô sản) đã làm cho sự ra đời của Đảng vừa mang tính dân tộc sâu sắc, vừa mang tính thời đại, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc.
Nhìn lại chặng đường đã qua, sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 thể hiện năng lực hoạch định chiến lược đúng đắn ngay từ điểm khởi đầu - minh chứng cho tầm nhìn, bản lĩnh và trí tuệ của Nguyễn Ái Quốc và thế hệ những người cộng sản đầu tiên, đồng thời là nền tảng tư tưởng, chính trị để Đảng tiếp tục dẫn dắt dân tộc trên hành trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hướng tới cột mốc 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030.
TS, Đại tá Tống Văn Khuông
TS, Trung tá Lê Mai Trang
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2025), Đề cương tuyên truyền kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (dành cho bậc đại học), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2 (1930), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng (2021), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I (1930-1954), quyển 1, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, xuất bản lần thứ hai.

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất