Bốn kỳ trước của loạt bài đã đi qua một hành trình 40 năm đầy biến động: Từ bước “xé rào” giải phóng tư duy kinh tế tại Đại hội VI, đến bản lĩnh ngoại giao “cây tre Việt Nam” phá vỡ thế bao vây, cấm vận để bước vào tâm điểm hội nhập toàn cầu; từ “kỳ tích” giảm nghèo và sự lớn mạnh của hạ tầng đất nước, đến công cuộc hoàn thiện thể chế và “lò nóng” chỉnh đốn Đảng để làm sạch bộ máy, bảo vệ những thành quả ấy một cách bền vững. Bốn chặng đường ấy đều là những viên gạch nền móng. Vậy với nền móng đã được củng cố, Việt Nam sẽ kiến tạo tầm nhìn và hành động như thế nào để bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc?

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược hướng tới hai mốc lịch sử trọng đại: 100 năm ngày thành lập Đảng (2030) và 100 năm ngày thành lập Nước (2045). Khi nền tảng thể chế được củng cố và bộ máy đã được làm sạch qua công tác chỉnh đốn Đảng, nhiệm vụ trung tâm hiện nay là chuyển hóa các thành quả đó thành động lực phát triển thực chất. Tầm nhìn chiến lược chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi đôi với hành động quyết liệt, lấy sự hài lòng của người dân, sự phát triển của doanh nghiệp và sức mạnh tổng hợp quốc gia làm thước đo cao nhất. Nếu ở bốn kỳ trước, logic vận động của loạt bài chủ yếu xoay quanh việc nhìn lại quá khứ để rút ra bài học, thì ở kỳ cuối cùng, trọng tâm chuyển hẳn sang thì tương lai: Không chỉ tổng kết những gì đã làm được, mà phải trả lời câu hỏi “làm gì tiếp theo” và “làm như thế nào” để những thành quả của 40 năm Đổi mới không dừng lại như một đỉnh cao đã qua, mà trở thành bệ phóng cho một giai đoạn phát triển mới, với tốc độ và chất lượng cao hơn hẳn giai đoạn trước.
1. Định vị tầm nhìn chiến lược đến năm 2030 và 2045
Để tạo nên bước ngoặt lịch sử, toàn hệ thống chính trị đã thống nhất các mục tiêu phát triển dài hạn mang tính xuyên suốt hai giai đoạn.
Mục tiêu đến năm 2030: Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới.
Mục tiêu đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những mục tiêu định tính nêu trên đã được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu định lượng rõ ràng. Theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 vừa được Quốc hội thông qua, Việt Nam xác định tăng trưởng GDP “hai con số” là nhiệm vụ chính trị trọng tâm: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP năm 2026 và bình quân cả giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10% trở lên, đưa GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD - gấp khoảng 1,7 lần so với năm 2025. Riêng năm 2026, chỉ tiêu tăng trưởng GDP được đặt ở mức 10% trở lên, với GDP bình quân đầu người dự kiến đạt 5.400 - 5.500 USD. Đây là những chỉ tiêu ở mức rất cao so với giai đoạn trước, phản ánh quyết tâm chính trị mạnh mẽ nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển và vượt qua nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.
|
Chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội
|
Mục tiêu
|
|
Tăng trưởng GDP năm 2026
|
Từ 10% trở lên
|
|
Tăng trưởng GDP bình quân 2026 - 2030
|
Từ 10% trở lên
|
|
GDP bình quân đầu người năm 2026
|
5.400 - 5.500 USD
|
|
GDP bình quân đầu người năm 2030
|
Khoảng 8.500 USD (gấp ~1,7 lần năm 2025)
|
|
Vị thế kinh tế đến năm 2030
|
Thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới
|
Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030
Để đạt được mục tiêu này, mô hình tăng trưởng phải chuyển dịch căn bản từ dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ vốn là động lực chính trong giai đoạn đầu Đổi mới sang kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo và năng suất lao động. Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, xác định đây là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt mức tiên tiến, thuộc nhóm dẫn đầu Đông Nam Á về năng lực cạnh tranh số và Chính phủ điện tử, với 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo; đến năm 2045, phấn đấu trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực, thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo. Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về nội dung này (13/1/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là “chìa khóa vàng” để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng hùng cường của dân tộc.
Bên cạnh khoa học, công nghệ, việc kiên trì mục tiêu vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” còn đòi hỏi Việt Nam phải xử lý đồng thời nhiều bài toán mang tính cơ cấu: Nâng cao năng suất lao động xã hội, kế hoạch 2026 đặt chỉ tiêu năng suất lao động xã hội bình quân tăng khoảng 8%, cải thiện chất lượng tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững thay vì chỉ chạy theo tốc độ, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các cân đối vĩ mô như lạm phát (chỉ tiêu CPI bình quân tăng khoảng 4,5% trong năm 2026) và ổn định các thị trường vốn, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp - những lĩnh vực từng bộc lộ rủi ro tiềm ẩn trong giai đoạn trước. Đây là những điều kiện cần để tốc độ tăng trưởng cao không đi kèm với bất ổn vĩ mô hay tích lũy rủi ro hệ thống.
Đột phá chiến lược của giai đoạn tới, vì vậy, được xác định rõ ràng ở các ngành công nghiệp mũi nhọn của tương lai: Công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh và năng lượng tái tạo, những lĩnh vực mà Việt Nam có cơ hội tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, tiếp nối đà hội nhập đã được xây dựng từ các FTA thế hệ mới và mạng lưới hạ tầng viễn thông đã phủ rộng khắp cả nước. Việc sớm hoàn thành và phát huy hiệu quả Trung tâm dữ liệu quốc gia, đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu vùng, cùng mạng lưới khu công nghệ cao tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, được xác định là những công trình nền tảng để Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ lõi, thay vì chỉ dừng lại ở vai trò gia công, lắp ráp như phần lớn giai đoạn hội nhập trước đây.
2. Khơi thông các nguồn lực phát triển quốc gia
Xem thể chế là “nguồn lực của nguồn lực”, trọng tâm hàng đầu trong giai đoạn tới là tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn pháp lý, giải phóng nguồn lực đất đai, tài chính và các dự án tồn đọng lâu năm, tiếp nối trực tiếp tinh thần xây dựng “chiếc lồng cơ chế” đã được phân tích ở Kỳ 4. Ba trụ cột nguồn lực được xác định rõ ràng trong các nghị quyết, chiến lược mới ban hành gồm hạ tầng chiến lược, con người và môi trường kinh doanh.
|
Trụ cột nguồn lực
|
Giải pháp khai thác và phát triển
|
|
Hạ tầng chiến lược
|
- Đến năm 2030, đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc trên cả nước.
- Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam (tổng vốn dự kiến khoảng 67 tỷ USD, triển khai giai đoạn 2027-2035, đi qua 23 ga tại 15 tỉnh, thành), phấn đấu khởi công trong năm 2026.
- Xây dựng cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế, cảng hàng không lớn, đường sắt kết nối quốc tế và đường sắt đô thị.
- Ưu tiên hiện đại hóa hạ tầng số, phát triển đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia và trung tâm dữ liệu lớn.
|
|
Con người và nhân tài
|
- Thu hút, trọng dụng nhân tài trong và ngoài nước bằng cơ chế đãi ngộ vượt trội.
- Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu; phát triển một số cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu ngang tầm khu vực.
- Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo.
|
|
Môi trường kinh doanh
|
- Nghị quyết 68-NQ/TW (4/5/2025) xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
- Mục tiêu đến 2030: 2 triệu doanh nghiệp hoạt động (20 doanh nghiệp/nghìn dân), ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, khu vực tư nhân tăng trưởng bình quân 10-12%/năm, đóng góp 55-58% GDP.
- Mục tiêu đến 2045: Ít nhất 3 triệu doanh nghiệp, đóng góp trên 60% GDP.
- Tối ưu hóa thủ tục đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và quyền tài sản.
|
Riêng đối với trụ cột kinh tế tư nhân, Nghị quyết 68-NQ/TW nêu rõ đây là “lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, trực tiếp góp phần thực hiện mục tiêu của Nghị quyết 57-NQ/TW. Có thể thấy, ba nghị quyết lớn về khoa học công nghệ, về kinh tế tư nhân và về hạ tầng chiến lược được thiết kế để bổ trợ, cộng hưởng lẫn nhau, thay vì vận hành rời rạc như một số chính sách phát triển ở giai đoạn trước.
Đối với trụ cột hạ tầng chiến lược, dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam được xem là biểu tượng cho tham vọng phát triển của cả giai đoạn 2026 - 2030, với quy mô vốn đầu tư dự kiến khoảng 67 tỷ USD, lớn nhất trong lịch sử đầu tư hạ tầng giao thông của Việt Nam. Chính phủ đã yêu cầu trong tháng 1/2026 phải dứt khoát lựa chọn được hình thức đầu tư (đầu tư công, đầu tư tư nhân hay hợp tác công - tư) để có thể sớm triển khai, phấn đấu khởi công ngay trong năm 2026. Đây là bước tiếp nối tất yếu của cuộc bứt phá hạ tầng cao tốc, cảng biển và điện lưới đã được kiến tạo trong giai đoạn trước, đưa hạ tầng giao thông Việt Nam từ chỗ “kết nối cơ bản” sang “kết nối tốc độ cao”, rút ngắn đáng kể thời gian và chi phí logistics trên trục kinh tế Bắc - Nam.
3. Kế hoạch hành động: Từ cam kết đến kết quả thực tiễn
Để tầm nhìn không dừng lại trên giấy, kế hoạch hành động đòi hỏi sự chuyển động đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, tiếp nối trực tiếp tinh thần “lấy dân làm gốc” đã được rút ra từ bước “xé rào” lịch sử năm 1986.
Ở cấp vĩ mô, nhiệm vụ trọng tâm là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền triệt để theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, đi đôi với phân bổ nguồn lực và kiểm soát quyền lực chặt chẽ, kế thừa trực tiếp các cơ chế kiểm soát quyền lực đã được xây dựng trong công tác chỉnh đốn Đảng. Một điểm mới đáng chú ý trong kế hoạch 2026 - 2030 là lần đầu tiên Quốc hội giao chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể cho từng địa phương, thay vì chỉ đặt mục tiêu chung ở cấp quốc gia như trước đây, nhằm gắn trách nhiệm giải trình trực tiếp với từng cấp chính quyền. Song song đó, việc xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu năng đã được triển khai qua việc tổ chức lại mô hình chính quyền địa phương hai cấp tiếp tục được hoàn thiện để giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn thời gian ra quyết định.
Ở cấp cơ sở và đội ngũ cán bộ, nhiệm vụ đặt ra là triệt tiêu triệt để căn bệnh thành tích, hình thức; đưa cơ chế bảo vệ cán bộ “dám nghĩ, dám làm” vốn đã được thể chế hóa bằng Kết luận 14-KL/TW và Nghị định 73/2023/NĐ-CP vào thực thi bằng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc cụ thể, tránh tình trạng chủ trương đúng nhưng thực thi hình thức. Việc gắn chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể cho từng địa phương cũng đặt ra yêu cầu mới đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở: Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ theo lối mòn hành chính, mà phải chủ động đề xuất, sáng tạo trong thu hút đầu tư, khai thác tiềm năng đặc thù của từng địa phương để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng chung của cả nước.
Ở cấp độ cộng đồng và xã hội, nhiệm vụ là khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng cống hiến trong mỗi người dân và doanh nghiệp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đúng như bài học “lấy dân làm gốc” đã được đúc kết từ chính những người nông dân, công nhân “xé rào” thời kỳ đầu Đổi mới. Đồng thời, các chỉ tiêu về tiến bộ và công bằng xã hội tiếp tục được đặt song hành với chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế - kế hoạch 2026 - 2030 xác định rõ yêu cầu quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và chăm lo đời sống Nhân dân, tiếp nối trực tiếp mô hình phát triển “lấy con người làm trung tâm” đã được khẳng định qua “kỳ tích” giảm nghèo..
Về quản trị rủi ro và hội nhập quốc tế, trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu diễn biến phức tạp, việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an ninh năng lượng và an ninh lương thực được xác định là nền tảng sống còn. Đồng thời, Việt Nam tiếp tục phát huy thế mạnh của trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” mềm dẻo nhưng kiên định để tối ưu hóa các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, mở rộng thị trường và nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và xu hướng bảo hộ thương mại có chiều hướng gia tăng trên phạm vi toàn cầu.
Lời kết: Khát vọng Việt Nam - Tương lai bắt đầu từ hôm nay
Hành trình qua 5 bài viết: từ cội nguồn lịch sử của bước “xé rào” năm 1986, bản lĩnh ngoại giao phá thế bao vây cấm vận, “kỳ tích” giảm nghèo và hạ tầng, công cuộc hoàn thiện thể chế và chỉnh đốn Đảng, cho đến việc khơi thông nguồn lực và kiến tạo tầm nhìn hôm nay, tất cả đều hội tụ về một mục tiêu duy nhất: Xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không tự đến, mà được kiến tạo từ những hành động quyết liệt, trách nhiệm và sáng tạo của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân ngay từ hôm nay.
Nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới (1986 - 2026), chúng ta có quyền tự hào về những gì dân tộc Việt Nam đã cùng nhau làm nên. Từ những bước “xé rào” xé tan bóng đêm khủng hoảng với lạm phát từng lên tới 774,7%, vượt qua thế bị bao vây cấm vận để vươn ra tâm điểm hội nhập với việc gia nhập WTO và ký kết hàng loạt FTA thế hệ mới; từ một quốc gia thiếu đói với hơn 70% dân số dưới chuẩn nghèo trở thành điểm sáng toàn cầu về xóa đói giảm nghèo, với tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 2%; cho đến một bộ máy được tôi luyện, làm sạch qua “lò nóng” chỉnh đốn Đảng để vững vàng kiến tạo thể chế, tất cả đã khẳng định một bản lĩnh Việt Nam kiên cường, sáng tạo và luôn biết tự vượt lên chính mình.
Xuyên suốt 5 kỳ, một bài học mang tính quy luật lịch sử: Đổi mới bắt nguồn từ Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Nguồn sức mạnh vô tận giúp Đảng ta chèo lái con thuyền cách mạng qua muôn vàn thác ghềnh chính là niềm tin của Nhân dân, sự đồng lòng của toàn dân tộc và tinh thần “lấy dân làm gốc” trong từng đường lối, chính sách. Khép lại chặng đường 40 năm lịch sử để mở ra một chương mới đầy hứa hẹn. Đứng trước ngưỡng cửa của các mốc thời gian trọng đại 100 năm thành lập Đảng (2030) và 100 năm thành lập Nước (2045), thế và lực của đất nước đã hoàn toàn khác trước. Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đang đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam không chỉ dừng lại ở sự tự hào, mà phải biến khát vọng thành hành động, biến tiềm năng thành sức mạnh thực chất. Với nền tảng thể chế ngày càng hoàn thiện, bộ máy cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”, cùng khát vọng hùng cường luôn cháy bỏng, Việt Nam nhất định sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử vẻ vang, tự tin sánh bước vươn tầm cùng các cường quốc năm châu như điều Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi.
Nguyễn Đình Thiện
Nguyễn Thị Hoài Thu