Lý luận chính trị
Thứ Ba, 22/9/2026 11:35'(GMT+7)

KỲ 4: HOÀN THIỆN THỂ CHẾ VÀ “LÒ NÓNG” CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

Nếu các Kỳ trước đã khắc họa hành trình cởi trói sức sản xuất, phá vây hội nhập và kiến tạo kỳ tích giảm nghèo, hạ tầng, thì Kỳ 4 soi chiếu vào câu hỏi cốt lõi: điều gì bảo đảm những thành quả ấy được sử dụng đúng mục đích, không bị trục lợi, thất thoát? Câu trả lời nằm ở công cuộc hoàn thiện thể chế và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, “lò đã nóng lên rồi thì củi tươi cũng phải cháy”. Đây chính là mắt xích bảo vệ, giữ gìn mọi thành quả đã được kể trong ba kỳ trước, đồng thời mở đường cho một giai đoạn phát triển mới, thực chất và bền vững hơn. 
Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khởi xướng và lãnh đạo đã trở thành một dấu ấn lịch sử, làm thay đổi sâu sắc cục diện công tác xây dựng Đảng. Không dừng lại ở việc xử lý vi phạm hay “cắt bỏ cành sâu”, mục tiêu cốt lõi của “chiến dịch đốt lò” là làm sạch bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân và bảo vệ sự vững bền của thể chế. Trong mối quan hệ đó, phòng chống tham nhũng và hoàn thiện thể chế phát triển là hai mặt không thể tách rời: Siết chặt kỷ luật để tạo môi trường minh bạch, đồng thời xây dựng “chiếc lồng cơ chế” để loại bỏ tận gốc gốc rễ của sai phạm.
Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Phiên họp thứ 27 của Ban Chỉ đạo - Ảnh: VGP/LS
1. “Lò nóng” chỉnh đốn Đảng: Cắt bỏ cành sâu để cứu cả cây
Nếu bước “xé rào” năm 1986 là hành động “phá” những trói buộc của cơ chế cũ để giải phóng sức sản xuất, thì công cuộc chỉnh đốn Đảng hơn một thập kỷ qua lại là hành động “xây”, dựng lại kỷ cương, đạo đức công vụ và niềm tin xã hội, vốn là nền móng để mọi thành quả đổi mới có chỗ đứng vững chắc. Tập trung vào nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được những kết quả mang tính bước ngoặt, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ.
Quy mô xử lý kỷ luật trong hơn một thập kỷ qua chưa từng có trong lịch sử Đảng. Riêng năm 2024, theo báo cáo tại Phiên họp thứ 27 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 709 tổ chức đảng và 24.097 đảng viên vi phạm; riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật 68 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó lần đầu tiên có hai cán bộ nguyên là lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước bị xử lý kỷ luật vì vi phạm quy định về trách nhiệm nêu gương và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đây là minh chứng rõ nét cho tinh thần không có “vùng cấm” được thực thi nhất quán ở cấp cao nhất.

Nguồn: Ban Nội chính Trung ương, Phiên họp thứ 27 Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (31/12/2024)
Song hành với xử lý kỷ luật Đảng, hàng loạt đại án liên quan đến cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân như các vụ án tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Công ty Việt Á, Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), Tập đoàn AIC, FLC, Tân Hoàng Minh… đã lần lượt được đưa ra ánh sáng, xét xử công khai, nghiêm minh. Trong số này, vụ án tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát và Ngân hàng SCB được xem là vụ án kinh tế có quy mô thiệt hại lớn nhất từ trước đến nay được đưa ra xét xử, cho thấy quyết tâm xử lý triệt để, không phân biệt quy mô hay mức độ phức tạp của vụ việc, kể cả khi liên quan đến các tổ chức tín dụng có ảnh hưởng lớn đến an toàn hệ thống tài chính quốc gia. Việc xử lý dứt điểm những vụ án có tính chất đan xen giữa khu vực công và khu vực tư, giữa quan hệ cán bộ và quan hệ doanh nghiệp, cũng cho thấy cách tiếp cận phòng, chống tham nhũng của Việt Nam đã vượt ra khỏi phạm vi bộ máy nhà nước để bao trùm toàn bộ các mắt xích có nguy cơ trục lợi chính sách. Đáng chú ý, bước chuyển quan trọng nhất trong tư duy chỉ đạo là sự mở rộng phạm vi từ phòng, chống “tham nhũng” sang chống cả “tiêu cực” và gần đây là “lãng phí”, với 19 nhóm hành vi tiêu cực được Ban Chỉ đạo Trung ương chỉ ra, xác định trọng tâm là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, căn nguyên sâu xa dẫn tới tham nhũng.
Công tác thu hồi tài sản tham nhũng, vốn từng là khâu yếu trong nhiều năm đã có những chuyển biến tích cực rõ rệt. Tỷ lệ thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế tăng vượt bậc so với các nhiệm kỳ trước; riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương theo dõi, chỉ đạo trong năm 2024 đã thu hồi được gần 19.000 tỷ đồng cho ngân sách nhà nước. Việc gắn trách nhiệm thu hồi tài sản với quá trình điều tra, truy tố, xét xử ngay từ đầu thay vì chỉ tuyên án và bỏ ngỏ khâu thi hành đã khắc phục một trong những hạn chế lớn nhất của công tác phòng, chống tham nhũng trước đây, đồng thời tạo hiệu ứng răn đe thực chất hơn nhiều so với các bản án chỉ mang tính hình thức.
Mở rộng phạm vi đấu tranh sang lĩnh vực “lãng phí”, Tổng Bí thư Tô Lâm và Ban Chỉ đạo Trung ương đã nhiều lần nhấn mạnh rằng lãng phí, biểu hiện qua các dự án chậm tiến độ, công trình “đắp chiếu”, đất đai bỏ hoang hay tài sản công sử dụng kém hiệu quả, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước không kém gì tham nhũng, thậm chí ở một số trường hợp còn lớn hơn về quy mô thiệt hại. Việc rà soát, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, kéo dài nhiều năm được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong Chương trình công tác năm 2025 của Ban Chỉ đạo, cho thấy tư duy phòng, chống tiêu cực đã được mở rộng toàn diện hơn, bao trùm cả những thất thoát nguồn lực do sự trì trệ, thiếu trách nhiệm trong quản lý, chứ không chỉ giới hạn ở hành vi trục lợi cá nhân.
Sự quyết liệt này đã đập tan các luận điệu xuyên tạc cho rằng chống tham nhũng là “đấu đá nội bộ” hay “làm nhụt chí, cản trở phát triển”. Ngược lại, việc kiên quyết cắt bỏ những “tế bào biến chất” đã giúp củng cố niềm tin chiến lược của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, chính là điều kiện nền tảng để Việt Nam tiếp tục là điểm đến tin cậy của dòng vốn đầu tư quốc tế.
2. Từ xử lý vi phạm đến xây dựng “lồng cơ chế”
Thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng cho thấy một quy luật: Tham nhũng và tiêu cực thường nảy sinh từ những “khoảng trống” pháp lý, sự thiếu minh bạch hoặc cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện. Vì vậy, xử lý cán bộ vi phạm chỉ là giải pháp phần ngọn; gốc rễ của vấn đề nằm ở việc xây dựng một hệ thống thể chế đủ chặt chẽ để “không thể”, “không dám” và “không cần” tham nhũng. Đứng trước yêu cầu đó, Đảng và Nhà nước đã đẩy mạnh hoàn thiện thể chế quản lý đồng thời trên hai kênh: quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Việc luật hóa và quy định hóa từng bước siết chặt các “khoảng trống” quản lý cho thấy tư duy phòng, chống tham nhũng của Việt Nam đã chuyển từ “xử lý vụ việc” sang “phòng ngừa hệ thống”. Đây cũng là bước tiếp nối tất yếu của tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật” mà Đại hội VI (1986) đã khởi xướng: Nếu năm 1986 Đảng dám nhìn thẳng vào khiếm khuyết của mô hình kinh tế để đổi mới, thì công cuộc chỉnh đốn hôm nay chính là dám nhìn thẳng vào khiếm khuyết của bộ máy quyền lực để tự làm mới mình.

Việc kiểm soát quyền lực được gắn chặt với công tác cán bộ, từ khâu quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cho đến đánh giá, giám sát. Các quy định về nêu gương, về những điều đảng viên không được làm, cùng cơ chế kê khai và kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức đã dần khép lại những “kẽ hở” từng bị lợi dụng để “chạy chức, chạy quyền” hay hợp thức hóa tài sản bất minh. Việc tinh gọn tổ chức bộ máy hành chính, hợp nhất các đơn vị cấp tỉnh và tổ chức lại mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong giai đoạn 2024-2025 cũng được nhìn nhận như một bước đi song hành, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu năng quản trị, vừa thu hẹp không gian phát sinh tiêu cực trong bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian.
Không chỉ dừng lại ở việc ban hành văn bản, quá trình hoàn thiện thể chế những năm gần đây còn chú trọng đến chất lượng và tính khả thi của chính sách ngay từ khâu soạn thảo. Chủ trương “cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính”, xóa bỏ cơ chế “xin - cho” trong cấp phép đầu tư, đấu thầu, đấu giá tài sản công đã được luật hóa cụ thể trong nhiều đạo luật sửa đổi gần đây, qua đó thu hẹp đáng kể dư địa để cán bộ, công chức lạm dụng quyền hạn được giao nhằm trục lợi cá nhân. Đồng thời, việc quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong từng khâu thẩm định, phê duyệt dự án đã tạo ra cơ chế “truy trách nhiệm đến cùng”, khắc phục tình trạng “tập thể chịu trách nhiệm chung chung” từng là kẽ hở phổ biến để một số cá nhân né tránh xử lý khi xảy ra sai phạm.
3. Lời giải cho bài toán “sợ sai” và bảo vệ cán bộ đột phá
Quá trình siết chặt kỷ luật, bên cạnh những kết quả tích cực, cũng bộc lộ tác động: Một bộ phận cán bộ, công chức xuất hiện tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm, “dĩ hòa vi quý”, né tránh, đùn đẩy công việc vì lo ngại rủi ro pháp lý. Nếu không được xử lý kịp thời, tâm lý này có nguy cơ làm chậm lại chính những nỗ lực khơi thông nguồn lực và cải cách hành chính mà bộ máy nhà nước đang theo đuổi. Để khắc phục tình trạng này, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận 14-KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, sau đó được thể chế hóa bằng Nghị định 73/2023/NĐ-CP của Chính phủ. Điểm mấu chốt của chủ trương này là phân định rạch ròi giữa hai bản chất hoàn toàn khác nhau:
Thứ nhất, đối với hành vi vi phạm cố ý, trục lợi cá nhân, lợi ích nhóm: Xử lý nghiêm minh, không có ngoại lệ, không có vùng cấm.
Thứ hai, đối với sai sót, rủi ro phát sinh trong quá trình thử nghiệm, tìm tòi giải pháp mới vì lợi ích chung, không vụ lợi: Được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm, được bảo vệ và ghi nhận.
Sự phân định minh bạch này tạo nên một hành lang pháp lý an toàn, giúp đội ngũ cán bộ giải tỏa áp lực tâm lý, yên tâm cống hiến, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, một yêu cầu đặc biệt cấp thiết trong bối cảnh đất nước đang cần những quyết sách đột phá, táo bạo để chuẩn bị cho kỷ nguyên phát triển mới. Thực tiễn triển khai cho thấy, cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm với những tiêu chí đánh giá cụ thể, tránh tình trạng vận dụng tùy tiện hoặc trở thành “tấm khiên” để né tránh trách nhiệm dưới danh nghĩa “đổi mới, sáng tạo”. Chính vì vậy, nhiều địa phương, bộ, ngành đã chủ động xây dựng quy trình xin ý kiến tập thể, ghi nhận bằng văn bản trước khi triển khai các sáng kiến có tính đột phá, vừa bảo đảm tính minh bạch, vừa tạo căn cứ pháp lý rõ ràng để bảo vệ cán bộ khi có rủi ro khách quan xảy ra. Đây là bước đi cần thiết để chủ trương lớn của Trung ương thực sự đi vào cuộc sống, thay vì chỉ dừng lại ở cấp độ văn bản.
Có thể nói, cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo không phải là sự “nới lỏng” kỷ luật, mà ngược lại là một bước hoàn thiện của chính công cuộc chỉnh đốn Đảng: Xử lý nghiêm minh hành vi trục lợi đi đôi với khuyến khích những nỗ lực đổi mới chân chính, qua đó giữ cho bộ máy công quyền vừa trong sạch, vừa năng động, hai yếu tố tưởng như đối lập nhưng thực chất bổ sung cho nhau trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
4. Chuyển đổi số và minh bạch hóa thể chế
Song song với hệ thống pháp luật và quy định Đảng, chuyển đổi số đang trở thành công cụ đắc lực để kiểm soát quyền lực một cách khách quan, giảm thiểu sự can thiệp chủ quan của con người. Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia đã kết nối dữ liệu dân cư trên phạm vi toàn quốc, tạo nền tảng để công khai, minh bạch hóa các giao dịch tài chính, quản lý tài sản, đất đai và hoạt động của bộ máy hành chính.
Việc đẩy mạnh xây dựng Chính phủ số, dịch vụ công trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt đã từng bước giảm sự tiếp xúc trực tiếp giữa người dân, doanh nghiệp với cơ quan công quyền qua đó thu hẹp dư địa phát sinh “tham nhũng vặt” vốn từng là điểm nghẽn phổ biến trong đời sống hành chính. Đây cũng là mắt xích tiếp nối tự nhiên với thành tựu hạ tầng viễn thông và phủ sóng 4G/5G đã được đề cập ở Kỳ 3: Hạ tầng số không chỉ phục vụ phát triển kinh tế mà còn trở thành công cụ quản trị quốc gia minh bạch, hiện đại.
Việc số hóa cơ sở dữ liệu đất đai, tài sản, thuế và các giao dịch tài chính cũng đang tạo tiền đề để cơ quan chức năng phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, thay vì chỉ có thể xử lý khi vụ việc đã gây hậu quả nghiêm trọng. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế quản trị quốc gia hiện đại mà nhiều nền kinh tế phát triển đã áp dụng, đồng thời là bước chuẩn bị cần thiết về nền tảng dữ liệu để Việt Nam có thể triển khai các mô hình quản trị dựa trên dữ liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số trong quản trị nhà nước không chỉ là công cụ kỹ thuật, mà đã trở thành một trụ cột thể chế mới, bổ sung cho hệ thống quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Ba trụ cột: quy định Đảng, pháp luật Nhà nước và nền tảng dữ liệu số cùng vận hành đồng bộ sẽ tạo thành một “chiếc lồng cơ chế” đa lớp, vừa đủ chặt chẽ để ngăn ngừa sai phạm, vừa đủ linh hoạt để không cản trở sự năng động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ trong thực thi công vụ.
Lời kết: Bệ phóng cho kỷ nguyên vươn mình
Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và chỉnh đốn Đảng không làm chậm lại nhịp đập phát triển; ngược lại, đó là điều kiện tiên quyết để khơi thông các nguồn lực, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, củng cố niềm tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một hệ thống thể chế ngày càng hoàn thiện, cùng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”, chính là bệ phóng quan trọng nhất để đưa đất nước tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Từ bước “xé rào” giải phóng tư duy kinh tế, đến bản lĩnh ngoại giao “cây tre” mở cửa hội nhập cùng “kỳ tích” giảm nghèo và hạ tầng, và nay là công cuộc làm sạch bộ máy, hoàn thiện thể chế, bốn chặng đường ấy cùng hội tụ về một logic phát triển nhất quán: Mọi thành tựu kinh tế - xã hội chỉ có thể bền vững khi được đặt trên nền móng của một thể chế minh bạch, một bộ máy liêm chính và một niềm tin xã hội vững chắc.
Đây cũng chính là tiền đề để Kỳ cuối tiếp tục phân tích cách Việt Nam khơi thông nguồn lực, kiến tạo tầm nhìn và hành động cụ thể nhằm hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào các mốc lịch sử 2030 và 2045, khi nền tảng thể chế đã được củng cố và bộ máy đã được tôi luyện qua “lò nóng” chỉnh đốn Đảng.

Nguyễn Đình Thiện
   Nguyễn Thị Hoài Thu

Kỳ cuối: KHƠI THÔNG NGUỒN LỰC, KIẾN TẠO TẦM NHÌN VÀ HÀNH ĐỘNG CHO KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất