Lý luận chính trị
Thứ Hai, 5/10/2026 20:33'(GMT+7)

100 NĂM ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1930-2030) – BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ VÀ KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

Kỳ 4: NHÂN DÂN VÀ SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC - CỘI NGUỒN THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, sức mạnh của Đảng luôn gắn liền với sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ khi ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, đồng thời từng bước xây dựng đường lối, tổ chức và phương thức lãnh đạo phù hợp để giác ngộ, tập hợp, tổ chức và phát huy sức mạnh của Nhân dân, biến chủ nghĩa yêu nước và khát vọng độc lập, tự do thành sức mạnh cách mạng hiện thực. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân tại Lễ hội Đền Hùng _Ảnh: Tư liệu

Qua các thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân, đế quốc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt qua công cuộc đổi mới, mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân vừa là điều kiện bảo đảm thắng lợi, vừa là thực tiễn sinh động để Đảng không ngừng hoàn thiện đường lối lãnh đạo. Tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân là gốc”, về đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng. Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng “thế trận lòng dân” tiếp tục khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1. Nhân dân là chủ thể của cách mạng – cơ sở hình thành mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân
Lịch sử Việt Nam cho thấy, trong quá trình dựng nước và giữ nước, sức mạnh của dân tộc luôn được tạo nên bởi sự cố kết cộng đồng, lòng yêu nước và ý chí tự cường của Nhân dân. Tuy nhiên, sức mạnh ấy chỉ có thể trở thành sức mạnh chính trị – xã hội to lớn khi được một lực lượng tiên phong giác ngộ, tổ chức và lãnh đạo theo một đường lối đúng đắn. Sự nghiệp cách mạng không thể tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng, nhưng thắng lợi của cách mạng cũng không thể chỉ được giải thích bằng vai trò của tổ chức lãnh đạo. Đảng lãnh đạo cách mạng bằng đường lối, chủ trương, tổ chức và phương thức phù hợp; Nhân dân là lực lượng trực tiếp thực hiện đường lối cách mạng, là chủ thể sáng tạo lịch sử và là nguồn sức mạnh quyết định khả năng biến đường lối thành hiện thực.
Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu cơ bản của cách mạng là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, đem lại độc lập, tự do và cuộc sống tốt đẹp cho Nhân dân. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong mối quan hệ chặt chẽ với quyền lợi của đại đa số nhân dân lao động. Điều đó tạo cơ sở chính trị để Đảng từng bước xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa mục tiêu cách mạng với lợi ích của Nhân dân.
Mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân là mối quan hệ biện chứng: Đảng đề ra đường lối trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tổng kết thực tiễn; đồng thời đường lối của Đảng phải được kiểm nghiệm trong thực tiễn đời sống của Nhân dân. Nhân dân vừa là đối tượng vận động, tổ chức của Đảng, vừa là chủ thể thực hiện, kiểm nghiệm và góp phần bổ sung, phát triển đường lối cách mạng.
Hồ Chí Minh đã khái quát sâu sắc quan điểm đó bằng tư tưởng “dân là gốc”. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Người đồng thời yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Tư tưởng “dân là gốc” không chỉ thể hiện sự coi trọng vai trò của Nhân dân mà còn đặt ra yêu cầu đối với phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng muốn lãnh đạo thành công phải xuất phát từ thực tiễn, nắm bắt lợi ích, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, tổ chức Nhân dân thành lực lượng chính trị và dựa vào sức mạnh của Nhân dân để thực hiện mục tiêu cách mạng.
2. Đảng lãnh đạo Nhân dân đấu tranh giành chính quyền – từ giác ngộ, tổ chức đến phát huy sức mạnh toàn dân
Trong thời kỳ 1930 - 1945, một trong những đóng góp lịch sử quan trọng của Đảng là từng bước chuyển hóa phong trào yêu nước và các lực lượng xã hội thành phong trào cách mạng có tổ chức, có mục tiêu và có phương pháp đấu tranh phù hợp.
Ngay sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo phong trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ – Tĩnh; qua đó khẳng định vai trò của quần chúng công – nông trong phong trào cách mạng và năng lực tổ chức, lãnh đạo của Đảng. Những cao trào cách mạng tiếp theo trong thời kỳ 1936–1939 và 1939–1945 cho thấy sự phát triển linh hoạt của đường lối, phương pháp vận động và tập hợp lực lượng. Đặc biệt, trước những biến chuyển của tình hình thế giới và trong nước, Đảng từng bước hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Hội nghị Trung ương 8 năm 1941 dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc đã có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc và xây dựng mặt trận đoàn kết rộng rãi.
Sự ra đời của Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) năm 1941 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nghệ thuật tập hợp lực lượng của Đảng. Trên cơ sở lợi ích tối cao của dân tộc, Đảng chủ trương đoàn kết rộng rãi các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, cá nhân yêu nước vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì một mục tiêu chung. Nhờ đó, phong trào cách mạng không ngừng mở rộng về lực lượng và địa bàn. Các tổ chức cứu quốc được xây dựng, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang từng bước phát triển, tạo nên thế và lực mới cho cách mạng.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng sinh động cho sự kết hợp giữa vai trò lãnh đạo của Đảng với sức mạnh của quần chúng nhân dân. Đảng đã kịp thời xác định đúng thời cơ, đề ra chủ trương tổng khởi nghĩa, tổ chức và lãnh đạo quần chúng nổi dậy giành chính quyền trong cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tổ chức của các đoàn thể cách mạng, nhân dân đã trở thành lực lượng trực tiếp làm nên thắng lợi. Vì vậy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không chỉ chứng minh tính đúng đắn của đường lối giải phóng dân tộc mà còn chứng minh năng lực của Đảng trong việc biến đường lối thành phong trào quần chúng rộng lớn và biến sức mạnh của quần chúng thành sức mạnh giành chính quyền.
3. Đảng phát huy sức mạnh toàn dân, đánh bại chiến tranh xâm lược, thống nhất đất nước
Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng đứng trước tình thế đặc biệt khó khăn. Đảng phải đồng thời lãnh đạo xây dựng chính quyền mới, giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội cấp bách và tổ chức Nhân dân đấu tranh bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính đã thể hiện sâu sắc quan điểm phát huy sức mạnh Nhân dân. “Toàn dân” không chỉ là khẩu hiệu huy động lực lượng mà phản ánh một phương thức tổ chức chiến tranh cách mạng, trong đó Nhân dân là chủ thể của cuộc kháng chiến.
Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương, phát triển lực lượng vũ trang, tổ chức sản xuất, bảo đảm giao thông, chăm lo thương binh, gia đình liệt sĩ và huy động mọi nguồn lực cho kháng chiến. Nhân dân vừa trực tiếp chiến đấu, vừa phục vụ chiến đấu, xây dựng hậu phương và bảo đảm sức người, sức của cho tiền tuyến. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, đường lối kháng chiến phù hợp và sức mạnh to lớn của toàn dân.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật phát huy sức mạnh toàn dân tiếp tục được phát triển. Miền Bắc trở thành hậu phương lớn, miền Nam là tiền tuyến lớn; sức mạnh của dân tộc được kết hợp với sức mạnh của thời đại. Hàng triệu người Việt Nam đã tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, sản xuất và bảo đảm hậu cần cho chiến trường. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời là kết quả của quá trình phát huy cao độ sức mạnh của con người Việt Nam trong một cuộc đấu tranh lâu dài vì độc lập, thống nhất đất nước.
Qua hai cuộc kháng chiến, bài học lịch sử nổi bật được khẳng định: Đảng có đường lối đúng đắn nhưng đường lối chỉ trở thành sức mạnh khi được Nhân dân tiếp nhận, hưởng ứng và tổ chức thực hiện. Ngược lại, thực tiễn chiến đấu và lao động của Nhân dân chính là cơ sở để Đảng tổng kết, bổ sung và hoàn thiện đường lối lãnh đạo.
4. Đảng lãnh đạo Nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc – phát huy sức mạnh toàn dân trong kháng chiến đến phát triển đất nước trong hoà bình
Sau năm 1975, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, cả nước thống nhất, cùng thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là một giai đoạn có nhiều thuận lợi nhưng cũng đứng trước những khó khăn, thách thức lớn. Thực tiễn những năm đầu sau thống nhất đặt ra yêu cầu phải nhận thức đúng các quy luật của quá trình xây dựng đất nước, phát huy quyền làm chủ và sức sáng tạo của Nhân dân, đồng thời khắc phục những hạn chế trong cơ chế quản lý và phương thức lãnh đạo. Những tìm tòi, đổi mới từ thực tiễn, đặc biệt là những sáng kiến của cơ sở và Nhân dân trong sản xuất, quản lý kinh tế, cùng quá trình tổng kết thực tiễn đã góp phần hình thành tư duy đổi mới của Đảng.
Đại hội VI năm 1986 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lãnh đạo của Đảng. Đổi mới trước hết xuất phát từ yêu cầu khách quan của thực tiễn và từ đòi hỏi phải giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực của đất nước, trong đó có sức sáng tạo của Nhân dân. Trong công cuộc đổi mới, quan hệ giữa Đảng với Nhân dân tiếp tục được thể hiện trên một phương diện mới. Nếu trong chiến tranh, sức mạnh Nhân dân chủ yếu được huy động cho mục tiêu giành và giữ độc lập thì trong hòa bình, nhiệm vụ đặt ra là phát huy sức sáng tạo, quyền làm chủ, nguồn lực vật chất và trí tuệ của Nhân dân vào xây dựng đất nước.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới cho thấy khi đường lối của Đảng phù hợp với quy luật khách quan, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, đồng thời tạo điều kiện để Nhân dân tham gia và phát huy quyền làm chủ, thì sức mạnh xã hội được giải phóng và chuyển hóa thành động lực phát triển. 
5. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới
Trong điều kiện hiện nay, nội hàm của đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng. Đó là đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, vùng miền; giữa đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài; giữa các chủ thể kinh tế, xã hội và các thế hệ người Việt Nam. Đại đoàn kết vì vậy không chỉ là nguồn lực chính trị – xã hội để giải quyết những khó khăn, thách thức mà ngày càng trở thành một nguồn lực phát triển. Khi người dân được tham gia, được đóng góp, được thụ hưởng thành quả phát triển và được bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng, thì sự đồng thuận xã hội sẽ trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước. Bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết này có ý nghĩa đặc biệt đối với phương thức lãnh đạo của Đảng, phải luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, lấy lợi ích của Nhân dân làm cơ sở và thường xuyên tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển đường lối, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn vai trò trung tâm, vai trò chủ thể của nhân dân trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 và khát vọng xây dựng đất nước ta hùng cường, thịnh vượng. Trong đó, quan điểm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội XIV của Đảng coi “Dân là gốc”, dân là chủ thể, là trung tâm, là mục tiêu, là động lực của sự phát triển. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; lấy sự tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu.
Đối với lực lượng Công an nhân dân, yêu cầu quán triệt bài học này càng có ý nghĩa sâu sắc. Công an nhân dân thường xuyên tiếp xúc, giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích và cuộc sống của người dân. Vì vậy, xây dựng hình ảnh người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân gần dân, trọng dân, hiểu dân, lắng nghe dân, tận tụy phục vụ Nhân dân không chỉ là yêu cầu về đạo đức công vụ mà còn là một nội dung thiết thực của việc củng cố thế trận lòng dân và mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân.
Nhìn lại 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, có thể thấy mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân là một trong những vấn đề xuyên suốt của lịch sử cách mạng Việt Nam. Qua mỗi giai đoạn, phương thức Đảng phát huy sức mạnh Nhân dân có sự điều chỉnh phù hợp với nhiệm vụ lịch sử, nhưng bản chất của mối quan hệ ấy vẫn nhất quán: Đảng lãnh đạo, Nhân dân là chủ thể và là lực lượng thực hiện sự nghiệp cách mạng; đường lối của Đảng bắt nguồn từ thực tiễn và lợi ích của Nhân dân, được Nhân dân kiểm nghiệm trong thực tiễn; thắng lợi của cách mạng đồng thời củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân. Bước vào giai đoạn phát triển mới, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà còn phải phát huy cao hơn sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng cống hiến của con người Việt Nam; giải phóng và huy động các nguồn lực xã hội; tạo điều kiện để Nhân dân tham gia, đóng góp và thụ hưởng thành quả phát triển. Củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân vững chắc vì vậy không chỉ là yêu cầu trước mắt mà là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
TS, Đại tá Tống Văn Khuông
TS, Trung tá Lê Mai Trang
TS, Thiếu tá Hoàng Thị Huyền

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
4. Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Tập 3, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943).
6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.


Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất