Năm 2045 không đơn thuần là một mốc thời gian trên tờ lịch. Đó là cột mốc lịch sử trọng đại đánh dấu tròn một thế kỷ ra đời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045). Nếu mốc son 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và mốc Đổi mới 1986 phá vỡ thế bao vây, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, thì chặng đường hướng tới năm 2045 chính là cuộc bứt phá chiến lược để hiện thực hóa khát vọng: Đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thế nhưng, một Việt Nam phát triển “định hướng xã hội chủ nghĩa” vào giữa thế kỷ XXI sẽ mang diện mạo cụ thể như thế nào? Nền kinh tế sẽ bứt phá ra sao để vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”? Đời sống an sinh, con người, bộ máy quản trị và vị thế quốc tế của đất nước sẽ đạt tới tầm vóc nào?

Mô hình sân vận động VinFast - Trống Đồng với 135.000 chỗ ngồi.
Để cùng bạn đọc tìm lời giải cho những câu hỏi chiến lược ấy, chúng tôi trân trọng giới thiệu Chùm bài viết chuyên đề: “Hành trình khát vọng - Diện mạo Việt Nam đến năm 2045”.
Cấu trúc chùm bài viết:
Kỳ 1: Mẫu hình 2045 - Diện mạo một Việt Nam phát triển, định hướng xã hội chủ nghĩa: Khái quát bức tranh tổng thể về một quốc gia thu nhập cao nhưng lấy con người làm trung tâm, phát triển hài hòa và “không ai bị bỏ lại phía sau”.
Kỳ 2: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Động lực bứt phá tầm nhìn 2045: Chìa khóa giải phóng lực lượng sản xuất dựa trên kinh tế số, công nghệ lõi và sự phân công tối ưu giữa các thành phần kinh tế.
Kỳ 3: Con người và xã hội 2045 - Đô thị hiện đại, an sinh bao trùm: Chân dung thế hệ công dân toàn cầu mang tâm hồn Việt, sống trong không gian đô thị xanh - thông minh với lưới an sinh xã hội vững chắc.
Kỳ 4: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Quản trị quốc gia hiện đại: Bệ phóng thể chế từ bộ máy hành chính số minh bạch, kiến tạo phục vụ và sự lãnh đạo cầm quyền liêm chính của Đảng.
Kỳ 5: Tầm vóc Việt Nam 2045 - Bản lĩnh đối ngoại và đóng góp toàn cầu: Sự vươn tầm của ngoại giao “Cây tre Việt Nam” - từ hội nhập sâu rộng đến chủ động kiến tạo và gánh vác trách nhiệm quốc tế.
Với tư duy chính luận, hệ thống luận cứ khoa học cùng cách tiếp cận đa chiều, chùm bài viết không chỉ phác họa một kịch bản phát triển đầy cảm hứng mà còn khẳng định: Mục tiêu 2045 không phải là giấc mơ xa xôi, mà là con đường thực tiễn đang được kiến tạo bằng từng quyết sách đúng đắn của ngày hôm nay.
Trang Thông tin điện tử - Học viện Chính trị Công an nhân dân trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả!
KỲ 1: MẪU HÌNH 2045 - DIỆN MẠO MỘT VIỆT NAM PHÁT TRIỂN, ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khi cả nước có hơn 90% dân số mù chữ, ngân khố gần như trống rỗng và hai triệu người chết đói. Từ điểm xuất phát ấy, dân tộc Việt Nam đã đi qua ba mươi năm chiến tranh, hơn một thập niên bị bao vây cấm vận, rồi 40 năm Đổi mới để trở thành một nền kinh tế hơn 500 tỷ USD, nằm trong nhóm những nước tăng trưởng nhanh thế giới. Hành trình 100 năm của nước Việt Nam đặt ra cho thế hệ hôm nay nhiệm vụ được xác định tại Đại hội XIII của Đảng đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa[1].
Một quốc gia phát triển “định hướng xã hội chủ nghĩa” vào giữa thế kỷ XXI sẽ mang hình hài như thế nào? Sự khác biệt căn bản giữa mô hình của chúng ta với các quốc gia phát triển tư bản chủ nghĩa ở đâu? Trả lời những câu hỏi này chính là định hình ngọn hải đăng cho mọi chiến lược, chính sách hành động của ngày hôm nay.
1. Bức tranh định lượng - Tầm vóc của một quốc gia phát triển
Đến năm 2045, diện mạo Việt Nam được phản ánh trước hết qua những chỉ số phát triển kinh tế - xã hội tiệm cận với các chuẩn mực tiên tiến nhất của thế giới. Những chỉ số ấy được suy ra từ các mục tiêu đã ghi trong văn kiện của Đảng, từ quỹ đạo tăng trưởng thực tế của đất nước.
Về quy mô và sức mạnh kinh tế, Việt Nam bước vào nhóm 20-25 nền kinh tế lớn nhất toàn cầu. Năm 2025, quy mô GDP theo giá hiện hành của Việt Nam ước đạt 514 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người khoảng 5.026 USD, tăng trưởng 8,02%[2]. Với tốc độ tăng trưởng hai con số được duy trì trong giai đoạn 2026-2030 và tiếp tục ở mức cao sau đó, quy mô nền kinh tế có thể tăng gấp ba đến bốn lần sau hai mươi năm; một số dự báo quốc tế đã xếp Việt Nam vào nhóm 20-25 nền kinh tế lớn nhất thế giới trong thập niên 2040[3]. Thu nhập bình quân đầu người vượt ngưỡng 12.000-15.000 USD/năm, tức là vượt qua chuẩn thu nhập cao mà Ngân hàng Thế giới đang áp dụng (trên 14.000 USD, được điều chỉnh tăng hằng năm)[4], đưa Việt Nam chính thức đứng trong hàng ngũ các quốc gia thu nhập cao. Động lực tăng trưởng chính không còn dựa vào khai thác tài nguyên hay lao động giá rẻ, mà dựa trên kinh tế tri thức, kinh tế số và đổi mới sáng tạo, nơi kinh tế số đóng góp tới 40-50% GDP, đúng như mục tiêu tối thiểu 50% GDP vào năm 2045 mà Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra.
Hạ tầng quốc gia ghi nhận bước nhảy vọt vượt bậc. Mạng lưới đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam, công trình đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư cuối năm 2024 với mục tiêu cơ bản hoàn thành vào năm 2035[5], rút ngắn hành trình Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh xuống còn khoảng năm giờ, biến dải đất hình chữ S thành một không gian kinh tế liền mạch. Các đô thị thông minh kết nối không khoảng cách; hệ thống cảng biển nước sâu và sân bay thế hệ mới, mà Cảng hàng không quốc tế Long Thành là công trình mở đầu, cùng hạ tầng dữ liệu số hoàn thiện đã đưa Việt Nam trở thành một trung tâm logistics và công nghệ trọng điểm của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Song hành cùng kinh tế là bước chuyển mình về cấu trúc công nghệ và môi trường. Việt Nam vươn lên làm chủ các công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và năng lượng tái tạo, với tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển đạt trên 2,5% GDP. Mô hình kinh tế xanh, tuần hoàn được áp dụng triệt để, hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng không và bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước bền vững. Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về an ninh năng lượng quốc gia đã xác định tầm nhìn đến năm 2045: hệ thống năng lượng hiện đại, tự chủ, với tỷ trọng năng lượng tái tạo và năng lượng mới chiếm phần chủ yếu, điện hạt nhân trở thành một trụ cột của nguồn điện nền[6].
Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt trên 0,800, thuộc nhóm rất cao của thế giới. Đây là bước tiến lớn so với mức 0,766 của năm 2023, khi Việt Nam đứng thứ 93 trong 193 quốc gia và vùng lãnh thổ[7]. Tuổi thọ trung bình, chất lượng dịch vụ y tế và giáo dục không chỉ được đo đếm bằng số lượng mà bằng sự hài lòng và sức khỏe thực chất của mỗi người dân. Điều này đã được cụ thể hóa bằng các chính sách của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định từ năm 2026 người dân được khám sức khỏe định kỳ miễn phí ít nhất một lần mỗi năm, tiến tới miễn viện phí cơ bản cho toàn dân trong giai đoạn 2030-2035[8].
2. Bản chất xã hội chủ nghĩa - Phát triển vì con người, “không ai bị bỏ lại phía sau”
Nếu các chỉ số kinh tế phản ánh “tầm vóc”, thì bản chất xã hội chủ nghĩa chính là “linh hồn” của mô hình phát triển Việt Nam 2045. Phát triển không đồng nghĩa với việc chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá, chấp nhận sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc hay tàn phá môi trường.
Mẫu hình Việt Nam 2045 đặt con người vào vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu tối thượng, vừa là động lực quyết định của sự phát triển. Điểm khác biệt căn bản của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là sự kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Tiến bộ xã hội không phải là thứ “chờ kinh tế giàu rồi mới phân phối lại”, mà được lồng ghép trong từng chính sách, từng bước đi. Kết quả của nguyên tắc này: tỷ lệ hộ nghèo đa chiều cả nước đến cuối năm 2025 đã giảm xuống dưới 2%[9], từ mức gần 60% dân số sống dưới chuẩn nghèo vào đầu thập niên 1990. Đến năm 2045, nghèo đa chiều bị xóa bỏ hoàn toàn; tầng lớp trung lưu phát triển đông đảo, chiếm đa số dân cư, trở thành lực lượng rường cột cho sự ổn định xã hội và là thị trường nội địa đủ lớn để nền kinh tế không còn phụ thuộc quá mức vào bên ngoài.
Hệ thống an sinh xã hội đến năm 2045 là một “lưới an sinh bao trùm và đa tầng”. Mọi người dân, dù ở đô thị sầm uất hay vùng sâu, vùng xa, đều có quyền tiếp cận bình đẳng tới các dịch vụ công cơ bản chất lượng cao như giáo dục, y tế, nước sạch và năng lượng xanh. Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế bao phủ toàn dân; người cao tuổi, người khuyết tật, người gặp rủi ro trong đời sống được bảo đảm mức sống tối thiểu. Bình đẳng cơ hội, đặc biệt là cơ hội tiếp cận tri thức số và công nghệ, được bảo đảm để mọi người dân đều có thể tự lực vươn lên.
Đồng thời, nền kinh tế tuần hoàn đạt mức phát thải ròng bằng không, theo đúng cam kết mà Việt Nam đã đưa ra trước cộng đồng quốc tế và cụ thể hóa trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu[10], bảo đảm rằng sự phát triển của thế hệ hôm nay không tước đoạt tương lai của thế hệ mai sau. Trọng tâm của sự phát triển được đo lường bằng chỉ số hạnh phúc và sự hài lòng thực chất của người dân, trong một xã hội dân chủ, kỷ cương, văn minh, nơi quyền làm chủ và quyền thụ hưởng của nhân dân được đặt ở vị trí cao nhất. Đó là nội dung thực chất của khẩu hiệu “không ai bị bỏ lại phía sau”.
3. Ba trụ cột tạo nên mẫu hình Việt Nam 2045
Sự vận hành trơn tru của diện mạo Việt Nam 2045 tựa trên các trụ cột của kiềng ba chân vững chắc: kinh tế, xã hội và thể chế. Ba trụ cột này không tách rời nhau; mỗi trụ cột vừa là điều kiện, vừa là kết quả của hai trụ cột còn lại:
Trụ cột kinh tế - Tri thức, xanh, sáng tạo và tự chủ chiến lược. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành hiệu quả, hiện đại và hội nhập sâu rộng. Kinh tế nhà nước giữ vai trò mở đường, dẫn dắt các ngành công nghệ cốt lõi (bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng mới) và hạ tầng chiến lược; kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, trở thành “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” như Nghị quyết 68-NQ/TW đã xác định, với mục tiêu đến năm 2045 có ít nhất 3 triệu doanh nghiệp, đóng góp trên 60% GDP[11], cùng hàng loạt tập đoàn đa quốc gia mang thương hiệu Việt Nam vươn tầm thế giới. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài được phát triển như một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, gắn với chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Sự kết hợp hài hòa giữa nội lực tự chủ với ngoại lực hội nhập tạo nên một nền kinh tế có sức chống chịu cao trước các cú sốc toàn cầu, phát triển dựa trên mô hình kinh tế xanh, tuần hoàn và phát thải thấp.

Cận cảnh mô hình sân bay quốc tế Long Thành sẽ được hoàn thành năm 2026.
Nguồn: www.24h.com.vn
Trụ cột xã hội - Văn minh, hiện đại, đậm đà bản sắc. Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam mới được định hình rõ nét, theo đúng yêu cầu mà Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 đã đặt ra: văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; “văn hóa còn thì dân tộc còn”[12]. Công dân Việt Nam 2045 là những “công dân toàn cầu” sở hữu tri thức, kỹ năng hiện đại, tư duy xanh và năng lực số, được đào tạo trong một nền giáo dục đã bứt phá theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW, nhưng đồng thời mang trong mình tâm hồn, bản lĩnh, khát vọng cống hiến và lòng tự hào dân tộc sâu sắc. Văn hóa thực sự trở thành “hệ điều hành” của đời sống xã hội, là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm đưa giá trị Việt Nam lan tỏa ra thế giới; xây dựng một xã hội học tập, nhân văn, hòa nhập và an toàn.

Lễ hội Nghinh Ông trong văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ.
Nguồn: baotangphunu.com
Trụ cột thể chế - Quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được hoàn thiện toàn diện theo lộ trình mà Nghị quyết 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương đã vạch ra. Thể chế, từng được Tổng Bí thư Tô Lâm gọi là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, trở thành “lợi thế cạnh tranh lớn nhất” như Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã đặt mục tiêu[13], kiến tạo không gian phát triển đột phá và bảo vệ những ý tưởng đổi mới sáng tạo. Bộ máy quản trị quốc gia vận hành thông suốt trên nền tảng Chính phủ số, dữ liệu mở, trí tuệ nhân tạo và mô hình quản trị rủi ro chủ động, bảo đảm tính công khai, giải trình cao. Cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy năm 2025, với việc sắp xếp các bộ, ngành, sáp nhập các tỉnh, thành phố và chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chính là bước đi đầu tiên và quyết liệt nhất trên con đường này. Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò hạt nhân lãnh đạo, giữ vững bản lĩnh chính trị, không ngừng tự đổi mới và nâng cao năng lực cầm quyền để dẫn dắt quốc gia phát triển trường tồn trong thế giới biến động.

Các đại biểu trao đổi tại Hội thảo “Tạo lập nền tảng cho Chính phủ số, đưa các hoạt động của Chính phủ, doanh nghiệp, người dân lên môi trường số” ngày 05/6/2026.
Lời hứa lịch sử trước mốc 100 năm
Năm 2045 không chỉ là một cột mốc mang tính biểu tượng trên tờ lịch, mà chính là lời hứa lịch sử của thế hệ hôm nay trước các thế hệ tiền nhân và tương lai của dân tộc. Mẫu hình Việt Nam 2045 - một quốc gia phát triển, giàu mạnh, văn minh, mang bản chất xã hội chủ nghĩa, chính là sự kết tinh của khát vọng trường tồn, trí tuệ của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Khác biệt cốt lõi của mô hình phát triển Việt Nam không nằm ở việc rập khuôn hay sao chép bất kỳ con đường có sẵn nào, mà ở sự kiên định nguyên tắc: Lấy tăng trưởng kinh tế làm phương tiện, lấy sự hạnh phúc, tự do và phát triển toàn diện của con người làm mục tiêu tối thượng. Một nền kinh tế đứng trong nhóm hàng đầu thế giới chỉ thực sự trọn vẹn khi đi đôi với một xã hội công bằng, một nền văn hóa giàu bản sắc, một bộ máy quản trị liêm chính và một môi trường sống an lành, xanh sạch cho muôn đời sau.
Để chuyển hóa tầm nhìn 2045 từ một ngọn hải đăng chiến lược thành hiện thực sinh động, mọi chính sách và hành động ngay từ hôm nay phải thấm đượm tinh thần đổi mới sáng tạo, tư duy thể chế đột phá và khát vọng tự lực, tự cường mãnh liệt. Tinh thần ấy đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV: năm 2027 phải “tăng tốc, bứt phá, chuyển biến mạnh mẽ, tạo đà thực hiện mục tiêu cả nhiệm kỳ”[14], bởi mỗi năm của nhiệm kỳ này là một viên gạch của công trình 2045. Hướng tới mốc son 100 năm thành lập nước (1945 - 2045), toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đồng lòng, quyết tâm đúc kết nên một hình mẫu phát triển nhân văn và bền vững, đưa Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc năm châu, viết tiếp những trang sử hào hùng và rạng rỡ của dân tộc.
Bức tranh tổng thể đã được phác họa. Nhưng một quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 sẽ tạo ra của cải bằng cách nào, dựa trên những động lực nào? Câu hỏi ấy sẽ được trả lời trong kỳ tiếp theo.
Nguyễn Đình Thiện
Nguyễn Thị Hoài Thu
KỲ 2: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - ĐỘNG LỰC BỨT PHÁ TẦM NHÌN 2045
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.112.
[2] Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, Hà Nội, tháng 01/2026.
[3] Centre for Economics and Business Research (2025), World Economic League Table 2025, London.
[4] World Bank (2025), World Bank Country and Lending Groups (FY2026), Washington D.C. (ngưỡng thu nhập cao: GNI bình quân đầu người trên 14.005 USD).
[5] Quốc hội (2024), Nghị quyết số 172/2024/QH15 ngày 30/11/2024 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.
[6] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 18/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
[7] UNDP (2025), Human Development Report 2025, New York (HDI của Việt Nam năm 2023 đạt 0,766, xếp hạng 93/193).
[8] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá nâng cao sức khỏe, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
[9] Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, tlđd (tỷ lệ hộ nghèo đa chiều cả nước dưới 2%).
[10] Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050.
[11] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân, mục I và II.
[12] Nguyễn Phú Trọng (2021), Phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hà Nội, ngày 24/11/2021.
[13] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[14] Tô Lâm (2026), Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Hà Nội, ngày 05/10/2026.