Lý luận chính trị
Thứ Ba, 2/6/2026 10:16'(GMT+7)

Triết lý “Về sử dụng cán bộ” của Hồ Chí Minh và những vấn đề đặt ra trong công tác cán bộ hiện nay theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc và mang tính triết lý nhân sinh độc đáo về cách đánh giá, rèn luyện, bố trí và sử dụng cán bộ. Triết lý về “sử dụng cán bộ” là những luận điểm, những vấn đề có tính quy luật của Người về sử dụng con người và trở thành nguyên tắc, là điểm mấu chốt trong công tác cán bộ của Đảng. Triết lý về sử dụng con người, sử dụng cán bộ của Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ tư tưởng trọng dân, tin dân, nêu cao vai trò làm chủ đất nước của dân, là sự tiếp nối và phát triển quan niệm trọng dụng hiền tài truyền thống trong điều kiện mới của đất nước. Đây là bài học lớn trong công tác cán bộ của Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh lịch sử đặc biệt - thời điểm tổng kết 40 năm công cuộc đổi mới, mở ra một chương mới đưa đất nước tiến mạnh, tiến vững chắc vào kỷ nguyên giàu mạnh, phồn vinh. Định hướng chiến lược của Đại hội XIV đặt ra yêu cầu rất cao về sự bứt phá, tự chủ chiến lược, kiên quyết chống lãng phí“trọng dụng nhân tài. Vì vậy, việc soi chiếu, vận dụng và phát triển triết lý sử dụng cán bộ của Hồ Chí Minh vào thực tiễn hiện nay chính là chìa khóa vạn năng để giải quyết những bài toán hóc búa về nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý của đất nước.

1. Những nội dung cơ bản trong triết lý “sử dụng cán bộ” của Hồ Chí Minh

Triết lý sử dụng cán bộ của Hồ Chí Minh không phải là những giáo điều xơ cứng, mà là sự kết tinh giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh hoa văn hóa truyền thống Á Đông và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của Người. Triết lý đó được biểu hiện tựu trung qua các luận điểm cốt lõi sau:

Một là, sử dụng con người, sử dụng cán bộ là vấn đề quan trọng hàng đầu, liên quan trực tiếp đến sự thành bại của cách mạng

Xuất phát từ vai trò vô cùng quan trọng của người cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là dây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người viết: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”[1]. Cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thể phân công, và quyền lực của cán bộ cũng như nhiệm vụ của người cán bộ là do nhân dân giao cho. Vì vậy, Người khẳng định: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc [2].  

Việc sử dụng cán bộ có hiệu quả, theo Hồ Chí Minh có liên quan trực tiếp sự thành bại của cách mạng. Người khẳng định: “cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [3]. Như vậy, cán bộ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là người truyền đạt và tổ chức nhân dân thực thi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời nắm bắt và phản hồi thông tin từ phía nhân dân để Đảng, Nhà nước có căn cứ hoạch định, điều chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách. Vai trò của đội ngũ cán bộ vô cùng quan trọng. Vì vậy, theo Người trong công tác cán bộ, người lãnh đạo, quản lý phải biết sử dụng cán bộ một cách hợp lý, nếu không sẽ không phát huy được vai trò của họ trong sự nghiệp cách mạng. Đây là quan điểm cơ bản của triết lý về “sử dụng cán bộ” của Hồ Chí Minh và cũng chính là bài học lớn trong công tác cán bộ của Đảng.

Hai là, muốn sử dụng cán bộ hiệu quả phải đánh giá đúng người, đúng việc, nắm được khả năng, sở trường từng người

Người đưa ra luận điểm “phải hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ”. Đây là yêu cầu có tính chất như quan điểm xuất phát để Đảng tiến hành các công việc khác của công tác cán bộ. Trong công tác cán bộ phải “khéo dùng” (hay còn gọi là nghệ thuật dùng người), là phải dùng đúng người, đúng việc, đúng năng lực, sở trường, làm cho cán bộ vui vẻ, thoải mái, yên tâm công tác và hăng hái thi đua cống hiến sức mình cho sự nghiệp cách mạng. Vì, “người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng  như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong, đều tuỳ chỗ mà dùng được” [4]. Hồ Chí Minh nhắc nhở: “dùng cán bộ không đúng tài năng của họ, cũng là một cơ thất bại”, Người thí dụ: “người viết giỏi nhưng nói kém lại dùng vào những việc cần phải nói. Người nói khéo nhưng viết xoàng lại dùng vào công việc viết lách. Thành thử hai người đều không có thành tích” [5]. Người lãnh đạo khi làm công tác cán bộ cần phải bảo đảm khách quan, vì công việc, tránh: “Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài; ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực; ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình [6].

Hồ Chí Minh đòi hỏi người làm công tác cán bộ phải phải sáng suốt, có tâm trong sáng, độ lượng, khoan dung, vị tha, không thành kiến, hẹp hòi; chân thành, cởi mở, gần gũi những cán bộ còn yếu kém, giúp đỡ họ tiến bộ... để họ phấn đấu vươn lên. Hoạt động đánh giá, sử dụng cán bộ phải được tiến hành thường xuyên, trong đánh giá cán bộ, lấy hiệu quả công việc là thước đo chủ yếu. Đây là căn cứ để thực hiện các nội dung khác của công tác cán bộ như bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ. Thông qua đánh giá cán bộ, Đảng ta tìm được những người tài và bố trí họ vào những vị trí công tác xứng đáng để phát huy được năng lực, sở trường của họ, đồng thời phát hiện những kẻ “hủ hóa”, những người thoái hóa biến chất, nhất là những kẻ cơ hội về chính trị để loại bỏ khỏi bộ máy của Đảng và Nhà nước.

Ba là, phải tin tưởng, yêu thương, giúp đỡ cán bộ

Vấn đề thương yêu chăm sóc cán bộ, tạo điều kiện cho cán bộ trưởng thành được Hồ Chí Minh phân tích sâu sắc. Theo Người, đào tạo bồi dưỡng để có được cán bộ tốt là một quá trình lâu dài, không phải vài ba tháng, vài ba năm đã đào tạo được cán bộ tốt, mà cần trải qua quá trình công tác, được tôi luyện trong thực tiễn tranh đấu, huấn luyện. Trong hoạt động thực tiễn, cán bộ khó tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm, nếu không được phát hiện, sửa chữa kịp thời, sẽ dẫn đến thoái hóa, biến chất, dễ mất cán bộ. Vì vậy, Đảng phải thương yêu cán bộ. Thương yêu là luôn luôn chú ý đến công tác của họ. Thấy họ có khuyết điểm thì giúp họ sửa ngay, đồng thời cũng nêu rõ những ưu điểm, thành công của họ, nhưng không làm cho họ kiêu căng, mà làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức, vun đắp chí khí của họ để đi đến chỗ bại không nản, thắng không kiêu. Vì kiêu ngạo là bước đầu của thất bại.

Tin tưởng cán bộ là sự tôn trọng phẩm chất, năng lực của cán bộ. Tin tưởng trao việc cho họ, “thả cho họ làm”, “thả cho họ phụ trách”, không bao biện làm thay. Có như vậy, họ mới phấn khởi, mạnh dạn, tin vào năng lực của mình, dám làm dám chịu trách nhiệm, vượt qua khó khăn để vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ. Yêu thương, giúp đỡ cán bộ phải xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng. Yêu thương là giúp họ học tập, rèn luyện, trau dồi thêm kiến thức chuyên môn, lý luận. Là giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn trong công tác, trong cuộc sống và phải vun đắp ý chí cho họ. Yêu thương, giúp đỡ để họ ngày càng tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn, cống hiến nhiều hơn cho cách mạng.

Bốn là, trong sử dụng cán bộ phải có gan cất nhắc, đề bạt cán bộ, kiên quyết chống bệnh hẹp hòi, bè phái, chia rẽ trong công tác cán bộ

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làm công tác cán bộ phải có gan đề bạt, cất nhắc cán bộ. Đó là sự khẳng định, ghi nhận năng lực, sự cống hiến của từng cán bộ, đồng thời động viên khích lệ những người xung quanh, tạo động lực cho họ phấn đấu vươn lên trong công tác. Nếu người tài đức mà không được đề bạt, cất nhắc sẽ bị thui chột tài năng, vì “không có đất để dụng võ”. Người làm công tác cán bộ không được thành kiến, hẹp hòi, ích kỷ, sợ những người được cất nhắc sẽ vượt mình, hay vì cất nhắc người khác lên mà uy tín của mình bị giảm sút. Trước khi đề bạt, cất nhắc phải xem xét, đánh giá phẩm chất đạo đức, năng lực công tác và các mối quan hệ của họ trong quá trình công tác. Cất nhắc “phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái” [7]. Trên cơ sở những ưu điểm, năng lực mà đề bạt, cất nhắc họ một cách khách quan, công tâm, đúng người, đúng việc. Người làm công tác cán bộ “nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục” và như thế là “có tội với Đảng, với đồng bào”. Hơn nữa, không nên cất nhắc cán bộ  như “Giã gạo”. “Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời” [8]. Do vậy, đề bạt, cất nhắc cán bộ phải xem xét hết sức cẩn thận, chính xác, sau khi cất nhắc còn phải giúp đỡ họ để họ vững tin công tác.   

Trong cất nhắc, đề bạt cán bộ, theo Hồ Chí Minh, cần phải kiên quyết chống bệnh hẹp hòi, đố kỵ, chia rẽ, bè phái. Người khẳng định, một trong những nguyên nhân không sử dụng được người tài là “bệnh hẹp hòi”, nó là một kẻ địch đáng sợ cùng với các căn bệnh khác như chủ quan, ích kỷ, cục bộ địa phương, bè phái và chia rẽ…phá hoại Đảng từ trong phá ra. Muốn sử dụng cán bộ một cách hiệu quả thì phải ra sức chống các căn bệnh đó và phải chữa khỏi những căn bệnh đó.

Có thể khẳng định, triết lý về “sử dụng cán bộ” của Hồ Chí Minh trở thành bài học quý giá đối với công tác cán bộ của Đảng. Triết lý đó của Người đã và đang trở thành ‘ccẩm nâng”, kim chỉ nam và mặt trời soi sáng cho sự nghiệp cách mạng ở nước ta trong các thời kỳ. Với thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong 96 năm qua, đặc biệt là thành tựu của 40 năm đổi mới đã khẳng định rõ điều này. Làm theo triết lý của Người, Đảng ta đã rất thành công trong công tác cán bộ, nhờ việc lựa chọn và sử dụng đúng những người hiền tài vào đúng vị trí quan trọng, Đảng đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

2. Những vấn đề đặt ra trong công tác cán bộ theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Trong giai đoạn hiện nay, bối cảnh thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Sau 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, không ngừng cải thiện đời sống, nâng cao hạnh phúc của Nhân dân, nâng tầm uy tín, vị thế đất nước trên trường quốc tế. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, Đảng ta đã xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp trưởng thành, phát triển về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất và năng lực thực tiễn. Đặc biệt, “lần đầu tiên hoàn thành việc bố trí 100% bí thư tỉnh ủy, thành ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp tỉnh, cấp xã không phải là người địa phương” [9], đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược ngày càng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ các thời kỳ, góp phần quyết định vào thành tựu đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới, bên cạnh những thuận lợi, đất nước đang chịu sự chi phối từ những mặt trái của cơ chế thị trường, những tiêu cực nảy sinh trong quá trình hội nhập, toàn cầu hóa đã tác động không nhỏ đến công tác cán bộ của Đảng. Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “công tác cán bộ còn một số bất cập, nhất là đánh giá cán bộ; kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ có mặt còn hạn chế” [10].

Trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, việc quán triệt và vận dụng triết lý về “sử dụng cán bộ” của Hồ Chí Minh là vấn đề cấp bách, có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng nước ta trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Vận dụng triết lý về “sử dụng cán bộ” của Hồ Chí Minh hiện nay cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Thứ nhất, trong sử dụng cán bộ, cần đánh giá cán bộ thật sự đúng đắn, khoa học, công tâm, theo một quy trình dân chủ, công khai, minh bạch, xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa đức và tài, nhiệm vụ và lợi ích, tiêu chuẩn và cơ cấu, năng lực thực tế và bằng cấp.

Để có được đội ngũ cán bộ với những yêu cầu về phầm chất, năng lực, phải có sự đổi mới mạnh mẽ trong công tác cán bộ, để bảo đảm thực chất, hiệu quả. Chính vì vậy, Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ bảo đảm thực chất, hiệu quả, nhất là công tác thẩm định, đánh giá cán bộ” [11].  Đặc biệt, Đại hội XIV nhấn mạnh công tác đánh giá cán bộ, đây được coi là khâu đột phá trong công tác cán bộ, bởi có đánh giá đúng mới bổ nhiệm, sàng lọc cán bộ đúng, mới tạo động lực cho cán bộ nâng cao hiệu quả công tác.

Thứ hai, trên cơ sở thực hiện tốt khâu đánh giá cán bộ, cần làm tốt công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ; thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, nhất là trong thực tiễn.

Công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ là yêu cầu quan trọng, phải được tiến hành thường xuyên trong công tác cán bộ của Đảng, có như vậy mới xây dựng được nguồn cán bộ kế tiếp nhau, không bị “hẫng” giữa các thế hệ cán bộ. Việc thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ trong hoạt động thực tiễn sẽ giúp cán bộ trưởng thành, phát triển toàn diện và vẵng chắc. Đồng thời, hoạt động thực tiễn cũng là cơ sở vững chắc nhất trong công tác tuyển chọn, quy hoạch, tạo nguồn và bồi dưỡng cán bộ.

Đại hội XIV nhấn mạnh công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở. Nhiều nhiệm vụ của cấp huyện khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp được chuyển giao cho cấp cơ sở, nên nhiều cán bộ cơ sở thiếu hụt năng lực chuyên môn cần thiết để đáp ứng được yêu cầu công việc mới. Nhiều cán bộ cơ sở lúng túng trước những công việc chuyên môn mà họ chưa từng làm. Vì vậy, Đại hội XIV nhấn mạnh: “Ưu tiên đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ cấp xã sau sắp xếp đơn vị hành chính” [12]. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở phải trên cơ sở những yêu cầu về năng lực chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp mà cán bộ cấp cơ sở cần có và thực trạng thiếu hụt so với những yêu cầu này để bổ sung kịp thời nhằm giúp cán bộ cơ sở hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Thứ ba, thực hiện dân chủ và công khai trong công tác cán bộ

Trong công tác cán bộ, cần đắc biệt chú ý chống những biểu hiệnd ân chủ hình thức, cá nhân cục bộ, quan liêu độc đoán, không xuất phát từ lợi ích chung, thành kiến, hẹp hòi, thiếu công tâm hoặc nể nang, tùy tiện, thiếu trách nhiệm với tổ chức và với cán bộ, đảng viên. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh, trong công tác cán bộ phải có tiêu chí rõ ràng, cụ thể để đánh giá hiệu quả công việc, đó chính là sản phẩm đầu ra, kết quả hoạt động, công tác của từng cán bộ: “Khẩn trương thực hiện hiệu quả, đồng bộ thể chế về công tác cán bộ; đặc biệt tập trung triển khai nghiêm các quy định mới ban hành, nhất là trong đánh giá, đào tạo, sử dụng cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, công tâm, khách quan theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí, gắn với sản phẩm cụ thể, theo vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh; coi trọng uy tín trong Đảng và tín nhiệm trong Nhân dân” [13]. Đại hội nhấn mạnh việc đánh giá cán bộ phải xuyên suốt, liên tục, nghĩa là không chỉ đánh giá cuối năm hoặc đợi đến khi chuẩn bị bổ nhiệm mới đánh giá mà phải đánh giá hằng quý, hằng tháng. Đánh giá cán bộ phải đa chiều, không chỉ có tự đánh giá, cấp trên, đồng nghiệp đánh giá mà người dân, doanh nghiệp, những đối tượng phục vụ trong hoạt động công vụ của cán bộ cũng tham gia đánh giá.

Thứ tư, việc đánh giá phải toàn diện cả về phẩm chất và năng lực của cán bộ, phải cụ thể.

Trong công tác đánh giá cán bộ không chỉ trong đánh giá năng lực bằng sản phẩm đầu ra mà ngay cả những yếu tố khó cụ thể hóa, như sự tín nhiệm, uy tín trong nhân dân cũng được triển khai bằng các chỉ số cụ thể: “Từng bước xây dựng hệ thống chấm điểm năng lực cán bộ trên nền tảng số, tích hợp dữ liệu về kết quả công tác, sản phẩm đầu ra, chỉ số tín nhiệm và ý kiến phản hồi đa chiều” [14]. Việc đánh giá cán bộ trên nền tảng số sẽ bảo đảm tính công khai, minh bạch với các dữ liệu cụ thể, tránh chủ quan. Công khai, minh bạch, khách quan còn thể hiện ở việc người dân, doanh nghiệp dễ dàng và thuận tiện thể hiện sự tín nhiệm hay không tín nhiệm của mình khi các thông tin đánh giá này được bảo mật. Do đó, đây là phương tiện để thúc đẩy việc đánh giá cán bộ một cách đa chiều. Đánh giá cán bộ không chỉ cung cấp cơ sở cho việc sử dụng, bổ nhiệm cán bộ mà cho cả việc sàng lọc cán bộ, loại bỏ những người không đủ năng lực và phẩm chất ra khỏi đội ngũ, bộ máy. Do đó, cầnlấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ” [15].

Thứ năm, Đảng và Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ đúng đắn đối với cán bộ, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả một số cơ chế, chính sách ưu đãi trong công tác đào tạo và thu hút nhân tài, những người có đủ năng lực và phẩm chất bằng chế độ và tiền lương, tiền thưởng, nhà ở, điều kiện và các phương tiện làm việc. Đây là giải pháp có vai trò quan trọng đối với việc thu hút, phát huy vai trò của cán bộ trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Đại hội XIV khẳng định: “Có chính sách đãi ngộ, chế độ tiền lương, thu nhập bảo đảm đời sống để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, liêm chính, công tâm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” [16].  

Triết lý về “sử dụng cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kho tàng lý luận quý báu, luôn vẹn nguyên tính thời sự. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, trước những vận hội lớn và thách thức đan xen, quan điểm của Đại hội XIV về công tác cán bộ đã thổi một luồng sinh khí mới, định hình một chân dung mới cho đội ngũ cán bộ cách mạng. Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Người, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, việc xây dựng một đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên, ngang tầm nhiệm vụ lịch sử sẽ là động lực cốt lõi nhất đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vững vàng trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

 

TS, Thượng tá Tống Thị Nga

Phó Trưởng Khoa Lịch sử Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị CAND

 



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.309.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.309.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.68.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.243.

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.72.

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.279.

[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.281.

[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.282.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, (Tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, tr.57.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, (Tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, tr.67.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, (Tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, tr.144.

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, (Tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, tr.138.

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, (Tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, tr.137.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, (Tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, tr.186.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, (Tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, tr.22.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, (Tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, tr.129.

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất