Lý luận chính trị
Thứ Hai, 1/6/2026 8:43'(GMT+7)

Kỳ 3: Xây dựng thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

            Lời nói đầu:

          Tại kỳ 1, chúng tôi đã bàn về những tác động, ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa văn hóa, quốc tế hóa văn hóa đến bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Kỳ 2, chúng tôi nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng thế trận thông tin, thế trận truyền thông nhằm gia tăng sức mạnh nội sinh, lan tỏa hệ giá trị cốt lõi, bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Để góp phần hiện thực hóa định hướng “Quốc tế hoá bản sắc văn hoá của Việt Nam; Việt Nam hoá tinh hoa văn hoá thế giới”, trong kỳ 3, chúng tôi tập trung bàn về việc xây dựng thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

 

          Kỷ nguyên số tác động mạnh mẽ, sâu rộng, đồng thời mở ra những hướng phát triển mới cho văn hóa. Các sản phẩm văn hóa, di sản văn hóa dân tộc không còn bị bó hẹp trong ranh giới địa lý, mà lan tỏa với tốc độ nhanh chóng trên không gian mạng. Tại đây, các nền văn hóa giao lưu, tiếp biến lẫn nhau, kiến tạo nên một nền văn hóa đại chúng, toàn cầu. Công nghệ phát triển cho phép đa dạng hóa các hoạt động văn hóa truyền thống, không gian trải nghiệm văn hóa mở rộng. Nền tảng mạng xã hội đã thay đổi cách con người sáng tạo, trình diễn, lưu giữ các sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, văn hóa không biên giới cũng dễ dàng xóa nhòa, gạt bỏ bản sắc văn hóa dân tộc nếu dân tộc đó không đủ bản lĩnh, năng lực, sức mạnh, ý chí bước vào cuộc chơi “văn hóa toàn cầu”. Trong cuộc chơi này, quốc gia nào có sức mạnh mềm văn hóa lớn, quốc gia đó có tầm ảnh hưởng lớn, không chỉ truyền bá, lan tỏa các giá trị văn hóa mà còn chuyển hóa, làm biến đổi giá trị thậm chí hòa tan bản sắc văn hóa của dân tộc bị xâm lấn, xâm lăng văn hóa. Một thế trận pháp lý vững chắc thiết lập hành lang bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, dẫn hướng để hệ giá trị văn hóa phát triển rộng khắp. Một chính sách đúng đắn, phù hợp sẽ khơi thông, tạo động lực cho chiến lược phát triển văn hóa chủ động. Do vậy, xây dựng thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không đơn thuần là một nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa, mà là chiến lược an ninh văn hóa quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

          Nhận thức rõ điều đó, Nghị quyết số 80 đã đề ra nhiệm vụ: “Thể chế hoá đầy đủ, đồng bộ và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng về văn hoá. Tập trung xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hoá... theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hoá. Sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản quy phạm pháp luật còn bất cập, chồng chéo; tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế, đồng thời bổ sung khung pháp lý giải quyết những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn. Bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, liên thông giữa pháp luật về văn hoá với pháp luật liên quan; giữa chính sách văn hoá với các chính sách về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế tư nhân. Hoàn thiện thể chế, chính sách hội nhập quốc tế về văn hoá phù hợp với thông lệ và cam kết quốc tế”[1]. Trước làn sóng xâm nhập dồn dập của văn hóa ngoại lai, trước yêu cầu chủ động bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, rất cần thiết phải có hệ thống pháp lý được bày, bố trên tinh thần “thế trận”, thiết lập hành lang an toàn, đủ sức quản lý các nội dung độc hại, lai căng, lệch chuẩn, đồng thời đủ năng lực thiết lập các "màng lọc kĩ thuật" để chủ động ngăn chặn, bóc gỡ các nội dung bóp méo lịch sử, hạ bệ giá trị văn hóa dân tộc.

          1. Luận về “Thế trận pháp lý” bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

          Pháp lý là một thuật ngữ Hán Việt, trong đó “pháp” là phép tắc, luật lệ; “lý” là lẽ phải, nguyên lý, sự hợp lý. “Pháp lý” là cái lý lẽ dựa trên phép tắc của nhà nước[2]. Như vậy, nói đến pháp lý là nói đến tất cả những gì liên quan đến pháp luật và việc thực thi pháp luật trong đời sống xã hội. Hiểu một cách đơn giản, pháp lý là khía cạnh “đúng luật” của một sự việc, hành động hay tổ chức. Pháp lý là “Phạm trù khoa học phản ánh những vấn đề về tư tưởng, ý thức pháp luật của xã hội, thực tiễn nghiên cứu lý luận, xây dựng và áp dụng pháp luật. Pháp lý là cơ sở khoa học, là thuộc tính khách quan của pháp quyền”[3]. Bàn về các yếu tố cấu thành của pháp lý là bàn về hệ thống pháp luật (gồm các bộ luật, luật, nghị định, thông tư... do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội), về cơ quan pháp luật (các tổ chức thực thi và bảo vệ pháp luật như Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Bộ Tư pháp) và hoạt động pháp luật, hoạt động pháp lý (các hành vi như tư vấn luật, xét xử, soạn thảo hợp đồng, cấp giấy phép kinh doanh...). Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết, chúng tôi tiếp cận thành tố “pháp lý” không phải dưới góc độ Luật học. Tính bảo đảm, hợp pháp cho phép pháp lý trở thành công cụ chiến lược để bảo vệ văn hóa, kiến tạo “bức tường lửa” vững chắc chống lại bất kỳ sự xâm phạm bản sắc văn hóa dân tộc.

          “Thế trận pháp lý”. Hiện chưa có một khái niệm chính thức, tuy nhiên, có thể hiểu, đây là một thuật ngữ mang tính hình tượng được kết hợp với tư duy nghệ thuật quân sự ‘thế trận”, “bày binh bố trận”. Thuật ngữ này dùng để chỉ sự chuẩn bị, sắp xếp và tổ chức các thành tố liên quan đến pháp lý một cách có hệ thống, có mục đích nhằm chủ động bảo vệ hoặc tấn công. Để xây dựng một thế trận pháp lý bền vững, đủ sức mạnh, rất cần chú trọng xây dựng các thành tố như: Cơ sở pháp lý vững chắc với đầy đủ hệ thống các quy định pháp luật hiện hành; hệ thống chứng cứ hợp pháp, chắc chắn, chính xác; chiến lược khoa học, bài bản, thời điểm phù hợp.

          Thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một khái niệm  mang tính chiến lược và hệ thống. Thế trận này đòi hỏi sự tham gia của hệ thống quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân và cộng đồng trên vai trò chủ động xây dựng, tổ chức, phối hợp thực hiện đồng bộ các công cụ pháp lý (luật, nghị định, công ước quốc tế, chính sách) nhằm xây dựng “hàng rào phòng thủ”, “mật trận tấn công” vững chắc không chỉ để bảo vệ, bảo tồn mà còn phát huy các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Nói cách khác, thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là cách sắp xếp, tổ chức, bố trí, dàn trận các thành tố pháp lý liên quan thành công cụ, vũ khí bảo vệ và tấn công, giữ gìn và truyền bá, lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc.

          Thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được xây dựng dựa trên 4 thành tố trụ cột như:

          (1). Hệ thống luật về văn hóa như: Luật Di sản văn hóa; Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Điện ảnh; các nghị định về bảo tồn lễ hội, trang phục, ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số... Các luật này quy định rõ đối tượng được bảo vệ, chủ thể có trách nhiệm bảo vệ và chế tài xử phạt khi có hành vi làm tổn hại đến bản sắc văn hóa dân tộc.

          (2). Chiến lược liên kết với luật pháp quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa văn hóa, trong môi trường, không gian mở, bản sắc văn hóa dân tộc chỉ có thể đứng vững, lan tỏa khi quốc gia có chiến lược đúng, hòa nhịp với luật pháp quốc tế. Quá trình nghiên cứu luật pháp quốc tế, chủ động tham gia, nội địa hóa các Công ước quốc tế về văn hóa được coi là cần thiết, là bước tiến mới nhằm đưa di sản, bản sắc văn hóa Việt Nam lên tầm quốc tế. Việc được thế giới bảo hộ và công nhận trở thành tấm vé thông hành xuyên quốc gia, cho phép bản sắc văn hóa Việt Nam hòa nhịp toàn cầu.

          (3). Công cụ sở hữu trí tuệ và thương mại hóa lành mạnh. Một nội dung căn bản trong xây dựng thế trận pháp lý là tính toán, bày trận “thế tấn công”. Trận địa này cho phép chủ động đưa văn hóa ra thế giới nhưng vẫn bảo vệ, giữ vững được bản quyền, nhãn hiệu, ngăn chặn các hiện tượng liên quan đến chiếm đoạt văn hóa.

          (4). Cơ chế thực thi và chế tài nghiêm minh. Thành tố này đòi hỏi tính trách nhiệm trong hoạt động của các cơ quan thanh tra văn hóa, hải quan (ngăn chặn chảy máu cổ vật), tòa án và lực lượng an ninh mạng (xử lý vi phạm bản quyền văn hóa trên không gian số).

          Mục tiêu chính của xây dựng thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc chính là chống lại sự xân lăng văn hóa, chủ động hệ thống phòng thủ, tấn công vững chắc. Dựng nên “hàng rào” quy định đủ “kiên cố” để kiểm soát và sàng lọc các yếu tố ngoại lai có tác động tiêu cực, độc hại, sai lệch về bản sắc văn hóa dân tộc. Dùng luật pháp, điều ước và công ước quốc tế (như của UNESCO, WTO) làm “lá chắn” để từ chối các hiện tượng áp đặt văn hóa mà không bị coi là vi phạm các cam kết thương mại. Đặc biệt, thế trận pháp lý tạo cơ sở nền tảng vững chắc gia tăng khả năng sử dụng luật pháp để đăng ký bản quyền, sở hữu trí tuệ cho các di sản hoặc ngăn chặn các quốc gia khác “chiếm dụng văn hóa”… chủ động trong phòng thủ và tấn công. Tóm lại, thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là việc dùng luật pháp như một vũ khí tự vệ, tấn công chiến lược, dùng văn bản pháp quy để tạo ra một “không gian an toàn” bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

          2. Thực trạng và một số giải pháp xây dựng thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

          Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng một hành lang pháp lý thống nhất để bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đánh giá một cách khách quan nhất, hệ thống pháp luật liên quan đến nội dung này đang có sự chuyển dịch rất lớn về tư duy. Từ tư duy bao cấp, quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo, khơi thông nguồn lực, biến di sản văn hóa thành nguồn lực kinh tế, cho phép, khai thác thương mại hóa hợp lý di sản, biến di sản thành sản phẩm, nguồn lực của ngành công nghiệp văn hóa và du lịch. Trong giai đoạn từ năm 2024 đến năm 2026, một hành lang pháp lý đồng bộ, cởi mở trên nền tư duy mới được thiết lập. Luật Di sản văn hóa 2024 tiếp cận toàn diện về hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Nghị định số 308/2025/NĐ-CP, Quy định chi tiết thi hành Luật Di sản văn hóa; Nghị định số 215/2025/NĐ-CP, Về quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, di sản dưới nước và di sản phi vật thể; Thông tư 03/2026/TT-BVHTTDL, Quy định định mức kinh tế - kỹ thuật cho các dịch vụ bảo tồn văn hóa truyền thống (có hiệu lực từ tháng 5/2026) đã tháo gỡ những điểm “nghẽn” về kinh phí. Ngoài ra, các Nghị quyết, Văn kiện và Chiến lược tầm vĩ mô như: Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về Phát triển văn hóa Việt Nam; Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV; Nghị quyết số 30/NQ-CP của Chính phủ, Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam; Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam;  Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030; Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Như vậy, về tổng thể, chúng ta đã có những đột phá mạnh mẽ về tư duy, tạo dựng được hành lang pháp lý cho bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, tiếp cận ở phương diện cụ thể, vẫn còn nhiều “khoảng trống”, lỗ hổng cần được nhìn nhận nghiêm túc. Cụ thể: (1). Về công nghiệp văn hóa, chưa có đạo luật khung để quản lý, vận hành thị trường sản phẩm văn hóa; (2). Về bảo hộ bản quyền trên không gian mạng còn bộc lộ nhiều hạn chế. Các quy định về sở hữu trí tuệ hiện hành chưa phù hợp với sự xuất hiện của các hình thức sáng tạo mới; (3). Về lĩnh vực văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, chưa có văn bản luật riêng mặc dù lĩnh vực này đóng vai trò cốt lõi, định vị “bản sắc văn hóa”; (4). Về bảo tồn và phát triển, các văn bản luật đã ban hành còn chồng chéo, thậm chí xung đột. Luật Di sản văn hóa đôi khi chưa đồng bộ với Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng và Luật Đối tác công tư, gây khó khăn trong triển khai những chương trình, dự án bảo tồn văn hóa. Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) hiện chưa quy định rõ ràng và thông thoáng cho các dự án trong lĩnh vực văn hóa. Doanh nghiệp muốn bỏ vốn xã hội hóa để tôn tạo, phát huy di sản vẫn e ngại vì rủi ro pháp lý cao; (5). Về loại hình di sản tư liệu, các quy định về nhận diện, phân loại, bảo vệ chưa đồng bộ, đấy đủ; (6). Về chế tài xử phạt hành chính hiện nay trong Luật An ninh mạng hay Luật Sở hữu trí tuệ vẫn chưa đủ độ chi tiết và tính răn đe đối với các hành vi vi phạm văn hóa trên môi trường số.

          Để xây dựng một thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc vững chắc, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Cụ thể:

          Thứ nhất, nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải xây dựng thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là một giải pháp mang tầm chiến lược trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Đặc biệt, kỷ nguyên mới với đa tầng công nghệ số liên tục đổi mới, cập nhật khiến các sản phẩm văn hóa giao thoa mạnh mẽ. Một thế trận pháp lý sẽ tạo ra “bộ lọc”, “hàng rào pháp lý” vững chắc bảo vệ bản sắc văn hóa trước làn sóng “văn hóa đại chúng” toàn cầu. Nhận thức đúng về thế trận pháp lý sẽ giúp chuẩn hóa các quy tắc ứng xử, quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ di sản, đánh tan suy nghĩ thông thường rằng văn hóa chỉ cần bảo tồn bằng ý thức hoặc bằng các hoạt động lễ hội, phong tục. Xây dựng thế trận pháp lý sẽ giúp ngăn chặn tình trạng “đạo nhái”, chiếm đoạt văn hóa, bảo vệ “bản quyền” văn hóa dân tộc trên trường quốc tế, đồng thời lọc bỏ “rác văn hóa”. Để thực hiện giải pháp này, cần bắt đầu từ giáo dục luật pháp về văn hóa, đặt luật pháp đi trước để định hình, bảo vệ. Chuyển đổi sang trạng thái “sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật” trong sáng tạo, sử dụng, ứng xử với sản phẩm văn hóa. Lồng ghép giáo dục pháp luật về di sản văn hóa vào trường học. Ví dụ giáo dục học sinh tôn trọng trang phục truyền thống, lễ hội dân gian… Xây dựng các chiến dịch truyền thông, các nội dung số (podcast, video ngắn, infographics) để giải thích ngắn gọn về sự cần thiết phải có hệ thống pháp lý bảo vệ bản sắc văn hóa. Người dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số, các nghệ nhân cần được phổ biến quyền lợi pháp lý của họ. Khi họ biết luật pháp bảo vệ quyền lợi và sinh kế của họ gắn liền với di sản, họ sẽ chủ động tham gia vào “thế trận” này.

          Thứ hai, hoàn thiện thể chế và hệ thống văn bản pháp luật. Đây chính là nền móng của toàn bộ thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Rà soát, chỉnh sửa, bổ sung thêm các điều khoản trong các văn bản pháp lý đã ban hành để bắt kịp với dòng chảy thời đại. Ví dụ, trong Luật Di sản văn hóa, cần bổ sung các quy định rõ ràng về cơ chế đặc thù, chính sách đãi ngộ cho các nghệ nhân - những người trực tiếp nắm giữ và truyền dạy bản sắc văn hóa. Kịp thời cập nhật, bổ sung các bộ luật trực tiếp liên quan như Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh, Luật Sở hữu trí tuệ,... nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng nhưng chặt chẽ, bảo vệ tối đa các giá trị vật thể và phi vật thể. Xây dựng hành lang pháp lý cho “Công nghiệp văn hóa”. Nghiên cứu, ban hành các chính sách ưu đãi thuế, vốn đầu tư cho các ngành điện ảnh, âm nhạc, thời trang, du lịch dựa trên nền tảng văn hóa bản địa. Bổ sung quy định pháp lý có liên quan đến văn hóa số nhằm bảo vệ bản sắc dân tộc trên không gian mạng. Hoàn thiện khung pháp lý về chính sách tôn vinh, trợ cấp và đãi ngộ đối với các nghệ nhân. Khuyến khích hợp tác công tư (PPP). Thiết lập mạng lưới pháp lý đồng bộ giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao để xử lý các vi phạm xuyên biên giới hoặc trên môi trường số.

          Thứ ba, tích cực tham gia và nội luật hóa các cam kết, công ước quốc tế. Hiện tại, Việt Nam đã tham gia và phê chuẩn nhiều công ước, cam kết quốc tế quan trọng về văn hóa, tạo cơ sở pháp lý và định hướng để bảo tồn di sản, bảo hộ quyền tác giả, và thúc đẩy sự đa dạng văn hóa. Đáng chú ý là:

          (1). Nhóm các Công ước của UNESCO về Di sản và Văn hóa như: Công ước 1972 của UNESCO về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới (Việt Nam tham gia năm 1987); Công ước 2003 của UNESCO về Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể (Việt Nam tham gia năm 2005); Công ước 2005 của UNESCO về Bảo vệ và thúc đẩy sự đa dạng của các biểu đạt Văn hóa (Việt Nam tham gia năm 2007); Công ước 1970 của UNESCO về các biện pháp ngăn cấm xuất nhập khẩu và chuyển giao trái phép quyền sở hữu tài sản văn hóa (Việt Nam tham gia năm 2005).        

          (2). Nhóm các Công ước về bản quyền và sở hữu trí tuệ (WIPO) như: Công ước Berne (1886) về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (Việt Nam tham gia năm 2004); Hiệp ước Quyền tác giả của WIPO (WCT) và Hiệp ước về Biểu diễn và Bản ghi âm của WIPO (WPPT) (Việt Nam tham gia năm 2022); Công ước Geneva (1971) bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép (Việt Nam tham gia năm 2005).

          (3). Nhóm các cam kết quốc tế và khung quyền văn hóa khác như: Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR) (Việt Nam gia nhập năm 1982); các tuyên bố và kế hoạch hành động của ASEAN về Văn hóa (Tuyên bố liên minh văn hóa ASEAN và các chương trình hợp tác khu vực nhằm định hình bản sắc văn hóa cộng đồng ASEAN).

          Việc tham gia các công ước và cam kết quốc tế đã giúp Việt Nam bảo vệ tài nguyên văn hóa của quốc gia trước luật pháp quốc tế. Đồng thời, quá trình này cũng tạo áp lực tích cực buộc chúng ta phải liên tục cập nhật, nội luật hóa vào hệ thống luật pháp quốc gia (như Luật Di sản văn hóa, Luật Sở hữu trí tuệ).

          Thứ tư, số hóa di sản và xây dựng thế trận pháp lý trên không gian mạng. Đây không chỉ là giải pháp mà còn là nhiệm vụ chiến lược, là bước đi sống còn để bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên số. Các sản phẩm văn hóa, di sản văn hóa dân tộc khi đã bước lên không gian mạng, nó không bị giới hạn trong không gian vật lý mà trở thành tài sản số. Loại tài sản này phải đối mặt với cả cơ hội lan tỏa toàn cầu lẫn nguy cơ bị xâm hại, “xuyên tạc” hoặc “chiếm đoạt” bản quyền. Do vậy, cần tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý tài sản số bằng cách: (1). Pháp lý hóa tài sản số và quyền sở hữu trí tuệ của di sản. Bảo hộ quyền tác giả trên không gian mạng. Áp dụng các cam kết từ Hiệp ước Quyền tác giả của WIPO (WCT) để ngăn chặn tình trạng “đánh cắp bản quyền” hoặc trục lợi bất hợp pháp từ các tư liệu văn hóa số hóa. Xây dựng cơ chế pháp lý cho phép các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng tiếp cận, khai thác kho báu dữ liệu di sản một cách hợp pháp để phát triển công nghiệp văn hóa. (2). Hoàn thiện chế tài xử lý hành vi “xâm hại di sản số”, bổ sung văn bản pháp lý phòng, chống xuyên tạc, bảo vệ “biên cương” văn hóa số. Luật hóa các hình phạt đối với hành vi làm giả, sai lệch thông tin lịch sử, hoặc sử dụng công nghệ (như Deepfake, AI) để xuyên tạc giá trị của di sản văn hóa phi vật thể trên không gian mạng. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý để giám sát, ngăn chặn “rác” văn hóa, gỡ bỏ các nội dung vi phạm chủ quyền văn hóa Việt Nam trên các nền tảng xuyên biên giới (Facebook, TikTok, YouTube). (3). Tiêu chuẩn hóa công nghệ và an ninh mạng cho di sản. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia trong số hóa di sản (độ phân giải, định dạng lưu trữ, bảo mật dữ liệu) nhằm đảm bảo các địa phương, ban ngành có thể liên thông dữ liệu một cách đồng bộ. Bảo mật hạ tầng dữ liệu quốc gia, phòng ngừa các cuộc tấn công mạng, mã hóa độc hại phá hoại hoặc xóa sạch các dữ liệu lịch sử vô giá.

          Tóm lại, xây dựng thế trận pháp lý bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không đơn thuần là việc ban hành các điều luật, mà là một chiến lược mang tính chủ quyền, an ninh và phát triển quốc gia. Thế trận này sẽ tạo dựng “lá chắn” bảo vệ chủ quyền văn hóa, an ninh văn hóa, tạo “bệ đỡ” vững chắc cho sự phát triển bền vững. Một hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ ràng, minh bạch sẽ mở được cho ngành công nghiệp văn hóa phát triển, “kích hoạt” các nguồn lực xã hội liên kết theo mô hình hợp tác công tư, chuyển hóa giá trị di sản văn hóa thành nguồn lực kinh tế, đóng góp vào ngân sách quốc gia. Ngoài ra, thế trận pháp lý còn hướng tới việc bảo vệ và tôn vinh các chủ thể văn hóa, tạo hành lang pháp lý để công nhận, lồng ghép các hương ước, quy ước tiến bộ của làng xã vào hệ thống quản lý nhà nước, giúp luật pháp đi sâu vào đời sống, hợp lòng dân. Trên phương diện quốc tế, thế trận pháp lý chính là “căn cước” đảm bảo, “hộ chiếu” thông hành cho phép bản sắc văn hóa Việt Nam tự tin, vững vàng bước ra thế giới, nâng tầm vị thế Việt Nam./

Thiếu tướng Nguyễn Như Lôi – Phó Giám đốc Học viện

Thượng tá Nguyễn Tuyết Lan – Trưởng khoa

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Công an, Viện Chiến lược và Khoa học Công an (2005), Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội.
  2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
  3. Trần Văn Chánh (2022), Từ điển Hán Việt – Hán ngữ cổ đại và hiện đại, Nxb Hồng Đức.
  4. Xem: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa, https://nhandan.vn/hoan-thien-he-thong-phap-luat-ve-van-hoa-be-do-vung-chac-de-van-hoa-phat-trien-post939258.html

 

 

 



[1] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam

[2] Từ điển Hán Việt

[3] Bộ Công an, Viện Chiến lược và Khoa học Công an (2005), Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội, tr.936.

 

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất