Lý luận chính trị
Thứ Năm, 23/4/2026 9:35'(GMT+7)

XÂY DỰNG THẾ TRẬN BẢO VỆ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI

“Thế giới đang trong tiến trình xác lập trật tự mới với những chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có, nổi bật là cạnh tranh giữa các nền văn hoá, trong đó có cạnh tranh giá trị và ảnh hưởng của công nghiệp văn hoá. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ đang làm thay đổi căn bản các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị văn hoá, đặt ra nhu cầu cấp thiết về định vị quốc gia trong trật tự thế giới mới”[1]. Bản sắc văn hóa dân tộc – những giá trị văn hóa bền vững, “chiều sâu” văn hóa dân tộc, được “tôi luyện”, “kết” thành “trầm tích” qua dòng chảy lịch sử Lạc hồng - đang đứng trước thời cơ mới, thế vận mới, thách thức mới và yêu cầu mới. Nhiệm vụ bảo tồn, phát huy, lan tỏa, truyền bá bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của các nhà văn hóa, của giới văn nghệ sĩ hay của những người làm công tác bảo vệ giá trị văn hóa dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, mà là nhiệm vụ của mỗi người dân Việt Nam. Bản sắc văn hóa được mã hóa trong hệ thống ngôn ngữ, nghệ thuật ẩm thực, phong cách kiến trúc, thiết kế trang phục, phương thức sản xuất, canh tác, phong tục tập quán và niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc. Hình ảnh một miếng trầu đủ để biểu trưng cho văn hóa ứng xử, phong tục cưới hỏi, tình nghĩa thủy chung, triết lý hòa hợp với tự nhiên của người Việt. Một tục xin lửa đầu năm đủ để biểu trưng cho tình làng, nghĩa xóm, tinh thần gắn kết cộng đồng, sự ấm áp, no đủ, hòa thuận trong gia đình, đồng thời cũng biểu trưng cho niềm tin tâm linh, xua đuổi tà khí, rước vận may cho một năm mới hanh thông, thuận lợi. Như vậy, sau mỗi hiện tượng văn hóa, sản phẩm văn hóa là cả một hệ giá trị vô cùng phong phú, đa dạng của người Việt. Song, dưới tác động của nhiều nhân tố thuộc xã hội hiện đại, nếu không có chiến lược bảo vệ, phát triển, những giá trị văn hóa đó sẽ dần mai một, và chỉ tồn tại trong  ký ức, hoài niệm.

          Để cụ thể hóa một nội dung nhỏ trong phần nhiệm vụ, giải pháp được xác định tại Nghị quyết số 80-NQ/TW là “Xây dựng thế trận văn hoá gắn với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng”, chúng tôi tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về xây dựng thế trận bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc qua tiếp cận từ các thành tố tác động. Cụ thể:

KỲ 1. XÂY DỰNG THẾ TRẬN BẢO VỆ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRƯỚC XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA VÀ QUỐC TẾ HÓA VĂN HÓA

          1. Những tác động của xu hướng toàn cầu hóa và quốc tế hóa văn hóa

          Chúng ta đã bàn luận rất nhiều về vấn đề toàn cầu hóa văn hóa (Cultural Globalization), những tác động của toàn cầu hóa đến hệ giá trị văn hóa Việt Nam, đồng thời đã từng đưa ra nhận định: “Toàn cầu hóa văn hóa không tách rời với toàn cầu hóa kinh tế mà trái lại, gắn liền với sự vận hành của toàn cầu hóa kinh tế và các cam kết quốc tế về những vấn đề khác nhau liên quan đến sự sinh tồn và phát triển của nhân loại”… và “Bản chất của toàn cầu hóa văn hóa là tạo ra một cơ chế giao lưu mở, thực hiện đối thoại văn hóa và chấp nhận đa dạng văn hóa”[2]. Trên cơ sở thực tiễn, toàn cầu hóa văn hóa được định vị như một xu thế khách quan, diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp. Toàn cầu hóa biến thế giới trở nên “phẳng” hơn, xóa nhòa ranh giới đường biên giữa các quốc gia. Một thế giới “không biên giới” cho phép các nền văn hóa kết nối, tương tác và hội nhập sâu rộng đôi khi tạo ra một nền “văn hóa toàn cầu” chung[3].  

          Dưới tác động của toàn cầu hóa văn hóa, người dân có cơ hội tiếp xúc với đa dạng các nền văn hóa khác nhau, mở mang hiểu biết về các giá trị văn hóa, tri thức và lối sống của các dân tộc từ khắp mọi nơi thế giới. Thông qua đó, một lối sống mới, phong cách mới, tư duy mới được hình thành nhằm theo kịp xu thế thời đại. Giới trẻ có khuynh hướng tự lập hơn, cởi mở và dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm. Đặc biệt, toàn cầu hóa thúc đẩy tư duy về thị trường văn hóa, mở ra hướng khai thác mới cho các sản phẩm văn hóa. Quá trình này đã tạo nên luồng “sinh khí” mới, hướng phát triển mới cho bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc cung cấp các công cụ, nền tảng để văn hóa Việt bước ra thế giới, hòa vào dòng chảy văn hóa nhân loại. Sự tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, tư duy quản lý hiện đại đã “thổi” luồng gió đổi mới, phù hợp xu hướng hiện đại trong khai thác giá trị văn hóa truyền thống. Những mảnh “ký ức” dân gian hồi sinh, đánh thức ý thức bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, khơi nguồn tư duy “đa văn hóa” và động lực phát triển công nghiệp văn hóa.

          Tuy nhiên, toàn cầu hóa văn hóa tiềm ẩn nhiều yếu tố tiêu cực. Nguy cơ lớn nhất là đồng nhất hóa văn hóa. Điều này đồng nghĩa với sự đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc sẽ dần bị mai một, lãng quên. Các dân tộc có khuynh hướng thị hiếu, lối sống, khả năng thẩm thấu các giá trị nghệ giống nhau. Đáng chú ý, các quốc gia có tiềm lực kinh tế, công nghệ sẽ thông qua phim ảnh, âm nhạc, mạng xã hội và các giá trị lối sống để áp đặt “tiêu chuẩn văn hóa” của họ lên các nước nhỏ hơn. Hiện tượng “lai căng” văn hóa, “xâm lăng” văn hóa xuất hiện kéo theo sự biến dạng của các giá trị văn hóa truyền thống, sự xung đột chuẩn mực, khủng hoảng niềm tin, sự lai căng ngôn ngữ và “rác văn hóa” xâm nhập. Hiện tượng chính trị hóa văn hóa đang xâm lấn nội bộ, làm xáo trộn các giá trị văn hóa - chính trị truyền thống của quốc gia. Nói cách khác, “toàn cầu hóa thường được xem là quá trình phương Tây hóa mà cốt lõi là Mỹ hóa về mặt văn hóa, trong đó phương thức sống phương Tây được truyền bá và thực hiện một cách phổ biến”[4]

          Như vậy, toàn cầu hóa văn hóa chính là bối cảnh, là môi trường, là không gian “phẳng” không ranh giới, nơi mà các nền văn hóa, giá trị văn hóa có xu hướng trộn lẫn, hòa lẫn với nhau tạo ra sự tương đồng hay đồng nhất văn hóa. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, những nền văn hóa lớn có biểu hiện “áp bức” văn hóa, “áp đặt” giá trị văn hóa, buộc các nước nhỏ phải “chuyển dịch” theo. Điều này vô hình chung làm mất bản sắc văn hóa dân tộc, bị động hướng đến một hệ thống giá trị chung, quy chuẩn chung toàn cầu.

          Khác với toàn cầu hóa văn hóa, quốc tế hóa văn hóa (Cultural Internationalization) thường được hiểu như một công cụ, một chiến lược để mỗi quốc gia bước vào “sân chơi” toàn cầu hóa. Quốc tế hóa văn hóa được xem như một quá trình lan tỏa, giao thoa và tích hợp các giá trị văn hóa, truyền thống hoặc sản phẩm văn hóa ra ngoài biên giới quốc gia, phổ biến trong khu vực và trên toàn cầu. Xét về thời gian, thuật ngữ quốc tế hóa văn hóa xuất hiện trước thuật ngữ toàn cầu hóa văn hóa. Ngay từ thế kỷ XIX, khái niệm quốc tế hóa đã được sử dụng phổ biến và đến những năm 40 của thế kỷ XX, UNESCO chính thức sử dụng thuật ngữ “quốc tế hóa văn hóa” để nhấn mạnh quá trình một quốc gia hoặc tổ chức chủ động đưa bản sắc văn hóa của mình ra ngoài biên giới hoặc điều chỉnh để phù hợp với thị trường quốc tế. Đặc biệt, từ thập niên 80 – 90 của thế kỷ XX, với sự mở cửa kinh tế thế giới, những sản phẩm văn hóa trở thành những “mặt hàng” được quốc tế hóa. Nhiều quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản… coi quốc tế hóa văn hóa như một chiến lược quan trọng nhằm xuất khẩu sản phẩm văn hóa.

          Về bản chất, quốc tế hóa văn hóa được biểu hiện trên hai phương diện. Phương diện thứ nhất là sự lan tỏa, quảng bá rộng rãi các sản phẩm văn hóa, giá trị văn hóa ra thế giới. Phương diện thứ hai là sự tiếp nhận chủ động có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Quá trình vận động hai chiều: quốc tế hóa bản sắc văn hóa dân tộc và dân tộc hóa tinh hoa văn hóa nhân loại cho phép quốc tế hóa văn hóa chủ động thích nghi và vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, khi nghiên cứu hiện tượng quốc tế hóa văn hóa, cần xác định rõ thành tố tác động ở cả hai chiều tích cực và tiêu cực. Cụ thể:

          Về phương diện tiêu cực, quốc tế hóa văn hóa đặt ra nhiều vấn đề, thách thức lớn như: (1). Nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là thách thức lớn nhất. Khi các dòng chảy văn hóa từ các quốc gia phương Tây tràn vào quá mạnh, những giá trị văn hóa truyền thống có thể bị lu mờ, xóa nhòa, thậm chí bị phủ nhận, lãng quên. Tư duy giới trẻ có xu hướng thay đổi, tôn sùng, ngợi ca, học tập, thực hành theo các giá trị văn hóa phương Tây. Họ ưa thích lễ hội Halloween, Valentine hơn là các lễ hội truyền thống dân tộc. Thậm chí trong ngôn ngữ của họ, hiện tượng “pha trộn” ngôn ngữ, nửa tây, nửa ta được cho là “đẳng cấp”, là “pro” trở nên phổ biến; (2). Sự “xâm lăng văn hóa”, hiện tượng các quốc gia có nền văn hóa lớn, có sực mạnh kinh tế, công nghệ đang ra sức thực hiện chiến dịch áp đặt văn hóa thông qua sự truyền bá mạnh mẽ các sản phẩm văn hóa. Nguy cơ đồng nhất hóa văn hóa, “san phẳng” bản sắc văn hóa dân tộc hiện hữu. Tính đa dạng, phong phú vốn có của văn hóa nhân loại đang dần mất đi. Thế giới đang có khuynh hướng trở thành “ngôi làng toàn cầu”, nơi mọi người dân cùng có chung thị hiếu thẩm mỹ, ẩm thực, tư duy, sáng tạo, thực hành và hưởng thụ văn hóa; (3). Hiện tượng thương mại hóa văn hóa quá mức đến độ văn hóa bị xem như một món hàng thuần túy để kiếm lời. Hiện tượng này kéo theo các biểu hiện lệch lạc như: các lễ hội, nghi lễ tâm linh bị biến tướng thành các chương trình biểu diễn phục vụ du lịch, mất đi tính thiêng liêng và ý nghĩa thực sự; trang phục truyền thống biểu trưng cho bản sắc văn hóa dân tộc bị sử dụng một cách lệch lạc phục vụ mục đích kiếm lợi núp dưới mác du lịch; xuyên tạc giá trị văn hóa nhằm thu hút khách quốc tế…; (4). Hiện tượng xung đột và mâu thuẫn văn hóa làm phát sinh sự kỳ thị, chia rẽ hoặc bài ngoại khi người dân cảm thấy các giá trị cốt lõi của họ bị đe dọa. Một số dân tộc có thể phản ứng bằng cách đóng cửa hoàn toàn hoặc chống đối cực đoan đối với các yếu tố quốc tế. Ngoài ra, quốc tế hóa văn hóa còn tác động trực diện, làm thay đổi lối sống, tư duy hưởng thụ của người dân.

          Về phương diện tích cực, quốc tế hóa văn hóa mang lại nhiều lợi ích lớn, tác động mạnh đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Cụ thể: (1). Làm phong phú và đa dạng hóa đời sống tinh thần. Quá trình giao thoa văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại giúp người dân dễ dàng tiếp cận với kho tàng tri thức, nghệ thuật, ẩm thực và lối sống của nhiều dân tộc khác nhau. Thế giới quan, nhân sinh quan của họ được mở rộng. Họ hiểu biết rõ ràng hơn về thế giới, xóa bỏ những định kiến và thúc đẩy sự khoan dung. Đây là động lực to lớn giúp họ trở nên năng động, sáng tạo hơn trong cuộc sống; (2). Tạo động lực tăng trưởng kinh tế qua xây dựng ngành Công nghiệp văn hóa. Những giá trị văn hóa, sản phẩm văn hóa trở thành một mặt hàng xuất khẩu giá trị cao, tạo nguồn thu và việc làm cho người dân; (3). Nâng cao vị thế và “Sức mạnh mềm” quốc gia. Thông qua đối ngoại văn hóa, uy tín, vị thế quốc gia được nâng tầm. Tiếng nói của quốc gia trở nên có trọng lượng hơn, mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia được gắn kết bền chặt hơn. Môi trường văn hóa đặc sắc trở thành nguồn lực hấp dẫn, thu hút đầu tư nước ngoài; (4). Quốc tế hóa văn hóa thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và bảo tồn di sản. Các quan điểm về quyền con người, bình đẳng giới, bảo vệ môi trường... được lan tỏa và áp dụng hiệu quả hơn. Ý thức bảo tồn di sản văn hóa dân tộc được người dân chú trọng hơn. Bản sắc văn hóa dân tộc nhờ vậy được gìn giữ, phát huy.

          2. Thế trận chống lại tác động tiêu cực của toàn cầu hóa văn hóa, quốc tế hóa văn hóa bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc

          Thứ nhất, xây dựng thế trận chống lại sự áp đặt các “chuẩn mực văn hóa” toàn cầu. Thực tiễn cho thấy, các quốc gia có “sức mạnh mềm” lớn như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản… thường thông qua phim ảnh (Hollywood, K-drama), âm nhạc (K-pop) và thời trang để tạo ra những khuôn mẫu mới, chuẩn mực mới về cái đẹp, lối sống và tư duy. Họ phát động chiến dịch truyền bá “sức mạnh mềm” hướng tới giới trẻ, tác động vào tư duy, ham muốn cái mới, sự hào nhoáng, sùng bái văn hóa ngoại lai của giới trẻ để áp đặt những chuẩn mẫu của chính họ. Chiến thuật giao lưu văn hóa, hỗ trợ học bổng du học, trao đổi giáo dục, học thuật, tài trợ cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật… từng bước thẩm thấu vào tư duy, nhận thức của giới trẻ, khiến họ dần thờ ơ, coi nhẹ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Sự “xâm lăng văn hóa” diễn ra một cách âm thầm kiểu “mưa dầm thấm lâu” từng bước chiếm lĩnh niềm tin, trí tuệ của người Việt, làm dấy lên những hồ nghi về các giá trị tư tưởng và văn hóa của quốc gia mình. Sức mạnh dân tộc, nguồn lực nội sinh gắn kết suy giảm, tạo ra các xung đột văn hóa nội bộ, làm mất ổn định chính trị và suy yếu thế trận phòng thủ văn hóa của quốc gia. Vì vậy, một thế trận bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc cần được thiết lập trên nền hệ giá trị văn hóa quốc gia, biến văn hóa Việt Nam thành vũ khí bảo vệ và phát triển đất nước.

          Hệ giá trị văn hóa Việt Nam được tích hợp bởi 4 thành tố: Dân tộc - Dân chủ - Nhân văn - Khoa học. Giá trị của các thành tố được định vị từ Đề cương về Văn hóa Việt Nam năm 1943, và được tiếp nối, bổ sung, hoàn thiện trong các văn kiện, nghị quyết. Tuy nhiên, việc xây dựng hệ giá trị văn hóa chỉ thực sự được nâng tầm nhận thức mới và được xem là nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam ở Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, được cụ thể hóa tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2 ngày 24/11/2021, tại Hội thảo quốc gia về hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới tháng 11/2022, được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 80 về phát triển văn hóa Việt Nam và Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Các thành tố thuộc hệ giá trị văn hóa đó chính là bản sắc văn hóa dân tộc. Do vậy, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc cũng là bảo vệ hệ giá trị văn hóa. Một thế trận đa tầng được dựng nên với các lớp “phòng thủ” thấm đậm giá trị dân tộc – dân chủ - nhân văn – khoa học.

          Thứ hai, áp dụng chiến thuật “hòa nhập chứ không hòa tan”. Chiến thuật này cho phép Việt Nam chủ động bước vào không gian văn hóa, môi trường văn hóa nhân loại. Phương thức ngoại giao văn hóa với tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mở ra mối quan hệ đa quốc gia, tạo dựng hình ảnh một Việt Nam yêu chuộng hòa bình, chân thành và đáng tin cậy. Tinh thần “hòa nhập” nâng tầm văn hóa Việt Nam. Chúng ta chủ động quảng bá hình ảnh quốc gia thông qua các tuần lễ văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, mời các nhà lãnh đạo thế giới trải nghiệm văn hóa bản địa. Bên cạnh đó, chúng ta sử dụng ngoại giao văn hóa như một “cây cầu” kết nối du lịch, mở rộng hợp tác kinh tế, định vị bản sắc văn hóa Việt Nam, nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

          Thứ ba, phát động chiến dịch số hóa các di sản văn hóa và thiết lập hàng rào kỹ thuật, pháp lý, xây dựng “hệ miễn dịch” văn hóa trên không gian mạng. Một lộ trình hành động quyết liệt cần nhanh chóng triển khai nhằm biến các giá trị truyền thống thành sức mạnh số để đối trọng với các luồng văn hóa ngoại lai, độc hại. Việc số hóa các di sản văn hóa không chỉ biến quá khứ thành tương lai mà còn biến di sản bất động thành sức mạnh kinh tế, thúc đẩy sự sáng tạo. Quá trình này được thực hiện thông qua hoạt động: Xây dựng bản đồ di sản số bằng công nghệ GIS, 3D Scanning và VR/AR để tái hiện các di tích, lễ hội và bảo vật quốc gia; thiết lập kho dữ liệu lớn về văn hóa bao gồm những sản phẩm âm nhạc, văn học nghệ thuật, phim ảnh, trang phục, kiến trúc, tri thức dân gian và ngôn ngữ của 54 dân tộc. Đồng thời khuyến khích các studio game, phim ảnh sử dụng chất liệu di sản (như cổ phục, thần thoại Việt) để tạo ra các sản phẩm giải trí chất lượng cao, từng bước “xuất khẩu văn hóa” ra thị trường quốc tế.

          Thứ tư, vận hành chiến lược “Quốc tế hóa văn hóa Việt Nam”, “Việt Nam hóa văn hóa thế giới”.

          Thủ tướng Phạm Minh Chính từng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh chuyển đổi số để phát triển công nghiệp văn hoá, công nghiệp giải trí. Xây dựng và phát triển các sản phẩm văn hoá số chất lượng cao. Thúc đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu về văn hoá, di sản văn hoá. Quốc tế hoá văn hoá bản sắc văn hoá của Việt Nam; Việt Nam hoá tinh hoa văn hoá thế giới”[5]. Điều này có nghĩa rằng, ở chiều quốc tế hóa bản sắc văn hóa Việt Nam, chúng ta phải chủ động lan tỏa, truyền bá, giới thiệu những sản phẩm văn hóa, giá trị văn hóa ra quốc tế, từng bước biến các giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam trở thành các giá trị toàn cầu được công nhận. Mục tiêu này là động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam. Lần đầu tiên, chúng ta khẳng định: “Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo. Xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hoá tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo” với việc định vị các chỉ tiêu cụ thể như: đến năm 2030 “Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá trong các lĩnh vực có tiềm năng, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang,...”. Tầm nhìn đến năm 2045: “Công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP. Có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8 - 10 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh. Phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá”[6]. Ở chiều Việt Nam hóa tinh hoa văn hóa thế giới, chúng ta chủ động chọn lọc, tiếp nhận những giá trị tiến bộ, nhân văn, khoa học của nhân loại. Kiên quyết từ chối, loại bỏ “rác” văn hóa, những sản phẩm văn hóa độc hại, không phù hợp với phong tục truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Chúng ta có thể tiếp nhận những hình thức nghệ thuật hiện đại của thế giới (như nhạc Rap, Pop, hội họa phương Tây) lồng ghép khéo léo trong nhạc cụ dân tộc, trong chất liệu dân gian, hoặc mượn âm hưởng hiện đại để tái hiện lịch sử Việt Nam. Chúng ta có thể tiếp thu phong cách làm việc chuyên nghiệp, kỷ luật của phương Tây nhưng vẫn giữ gìn đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, coi trọng tình nghĩa gia đình của người Việt. Thậm chí, chúng ta có thể Việt hóa các thuật ngữ khoa học để làm giàu thêm vốn từ vựng nhưng vẫn giữ được sự trong sáng của tiếng Việt. Quá trình Việt Nam hóa tinh hoa văn hóa thế giới đòi hỏi phải có trí tuệ, bản lĩnh nhận diện đúng giá trị tinh hoa văn hóa, dám cắt phăng, loại trừ “rác” văn hóa độc hại, hướng đến mục tiêu hiện đại hóa văn hóa Việt Nam trên nền đậm đà bản sắc dân tộc.

Thiếu tướng Nguyễn Như Lôi – Phó Giám đốc Học viện

Thượng tá Nguyễn Tuyết Lan – Trưởng khoa

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
  2. Mai Hải Oanh, Toàn cầu hóa văn hóa và mô hình phát triển văn hóa Việt Nam đương đại, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/824295/toan-cau-hoa-van-hoa-va-mo-hinh-phat-trien-van-hoa-viet-nam-duong-dai.
  3. Quốc tế hoá văn hoá bản sắc văn hoá của Việt Nam, Việt Nam hoá tinh hoa văn hoá thế giới, https://baovanhoa.vn/chinh-tri/quoc-te-hoa-van-hoa-ban-sac-van-hoa-cua-viet-nam-viet-nam-hoa-tinh-hoa-van-hoa-the-gioi-118618.html
  4. Nguyễn Thị Thường, Toàn cầu hóa văn hóa, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/34471/toan-cau-hoa-tu-goc-nhin-van-hoa.

(còn nữa)

 

Kỳ 2: XÂY DỰNG THẾ TRẬN THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

Kỳ 3: XÂY DỰNG THẾ TRẬN PHÁP LÝ, CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

Kỳ 4: XÂY DỰNG THẾ TRẬN LÒNG DÂN TRONG  LƯU GIỮ, PHÁT TRIỂN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

 

 

 

 

 



[1] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam

[2] Xem Mai Hải Oanh, Toàn cầu hóa văn hóa và mô hình phát triển văn hóa Việt Nam đương đại, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/824295/toan-cau-hoa-van-hoa-va-mo-hinh-phat-trien-van-hoa-viet-nam-duong-dai.aspx#

[3] nt

[4] Xem Nguyễn Thị Thường, Toàn cầu hóa văn hóa, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/34471/toan-cau-hoa-tu-goc-nhin-van-hoa.aspx#

[5] Xem: Quốc tế hoá văn hoá bản sắc văn hoá của Việt Nam, Việt Nam hoá tinh hoa văn hoá thế giới, https://baovanhoa.vn/chinh-tri/quoc-te-hoa-van-hoa-ban-sac-van-hoa-cua-viet-nam-viet-nam-hoa-tinh-hoa-van-hoa-the-gioi-118618.html

[6] Nghị quyết 80

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất