Trong tiến trình lịch sử dân tộc, đấu tranh giành và giữ hòa bình cho đất nước, độc lập cho dân tộc luôn giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển và tư duy đối ngoại của Việt Nam. Từ một quốc gia phải tiến hành các cuộc kháng chiến lâu dài để giành độc lập dân tộc và quyền tự quyết, Việt Nam ngày nay đã trở thành một chủ thể tích cực tham gia kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới. Những dấu mốc quan trọng như Hiệp định Giơnevơ và Hiệp định Pari không chỉ thể hiện thắng lợi của đấu tranh ngoại giao Việt Nam mà còn đặt nền móng cho tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước hướng tới hòa bình bền vững, cùng nhau phát triển. Trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đứng trước kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, đường lối đối ngoại của Việt Nam tiếp tục được phát triển tại Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, với định hướng “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đồng bộ và hiệu quả”, “bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc” và “tham gia chủ động, có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới”.
Từ đấu tranh ngoại giao vì hòa bình, thống nhất trong cách mạng giải phóng dân tộc…
Trong hai cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của dân tộc, ngoại giao đã trở thành một mặt trận có ý nghĩa chiến lược và là bộ phận cấu thành quan trọng trong đường lối cách mạng, luôn sát cánh cùng mặt trận quân sự có mặt ở tuyến đầu của đấu tranh cách mạng. Ngoại giao đã phối hợp nhuần nhuyễn, chặt chẽ với mặt trận quân sự và chính trị, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”, hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, qua đó giành thắng lợi từng bước, tạo tiền đề đưa sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất dân tộc đi đến toàn thắng. Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới ra đời còn nhiều khó khăn, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện sách lược hoà hoãn có nguyên tắc, lúc hoà hoãn với Tưởng để tập trung đánh thực dân Pháp ở Nam Bộ, khi hoà hoãn với Pháp để nhanh chóng đuổi quân Tưởng ra khỏi nước ta. Thông qua Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946, Tạm ước 14/9/1946 đã kéo dài thời gian cho toàn Đảng, toàn dân tăng cường xây dựng lực lượng, chuẩn bị đầy đủ cho cuộc kháng chiến kéo dài mà nhân dân Việt Nam biết không thể tránh khỏi. Đấu tranh ngoại giao phát huy vai trò củng cố hoà bình ngay sau chính phủ hợp hiến, hợp pháp ra đời, tạo thế và lực để cách mạng Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc.
Kháng chiến trường kỳ chín năm chống thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam phải đối mặt với lực lượng lục quân mạnh nhất nhì châu Âu, tháng 11/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trên một tờ báo Thụy Điển rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chuẩn bị thương lượng để chấm dứt cuộc chiến tranh với phía Pháp. Nếu Paris muốn “đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo cách hòa bình” thì “nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà sẵn sàng tiếp nhận ý muốn đó”. Khát vọng hoà bình và quyết tâm giữ nền độc lập dân tộc bằng hoà bình đã được Chính phủ Hồ Chí Minh giải quyết thống nhất và xuyên suốt từ đầu cuộc kháng chiến “chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng” đến cách kết thúc chiến tranh trên bàn đàm phán ngoại giao. Xét trên phương diện lịch sử và chiến lược, hiệp định Giơnevơ là một thắng lợi quan trọng của ngoại giao cách mạng Việt Nam, không chỉ chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài gần một thập kỷ mà còn khẳng định vị thế của Việt Nam như một chủ thể chính trị - ngoại giao trên trường quốc tế. Quan trọng hơn, Hiệp định Giơnevơ thể hiện rõ tư duy nhất quán của cách mạng Việt Nam: hòa bình phải gắn liền với độc lập dân tộc và quyền tự quyết của nhân dân. Đây chính là nền tảng tư tưởng cho đường lối đối ngoại Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.
Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước lâu dài và gian khổ, Đảng ta chủ trương đấu tranh chính trị, quân sự kết hợp chặt chẽ đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Các chiến dịch quân sự lớn như: Mậu Thân (1968), Quảng Trị (1972), Hà Nội - 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không (1972)... tạo ra những đòn liên hoàn buộc phía Mỹ phải chấp nhận những điều khoản ta đưa ra trên bàn đàm phán. Hội nghị Paris kéo dài 4 năm 8 tháng 16 ngày là đỉnh cao của quá trình đấu tranh bền bỉ, cuộc đấu trí bản lĩnh, cam go nhất thế kỷ XX của dân tộc Việt Nam. Hiệp định Pari có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng, buộc Hoa Kỳ phải rút toàn bộ quân đội và chấm dứt can thiệp quân sự tại Việt Nam; tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân Việt Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước vào năm 1975. Đồng thời, hiệp định khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế.
Như vậy, cả Hiệp định Giơnevơ và Hiệp định Pari đều thể hiện rõ nét đặc trưng của đường lối đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh: kiên trì mục tiêu hòa bình nhưng đồng thời kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Ngoại giao đóng vai trò chiến lược thực hiện mục tiêu hoà bình, khẳng định khát khao độc lập thực sự.
Hai là, trong kháng chiến trường kỳ, tự lực cánh sinh của nhân dân Việt Nam, ngoại giao nỗ lực đi đầu trong tìm kiếm và tranh thủ sức mạnh thời đại. Ngoại giao đã huy động được sự ủng hộ to lớn cả vật chất, tinh thần từ các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân tiến bộ trên thế giới, tạo nên phong trào quốc tế rộng lớn chưa từng có ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và trong lịch sử thế kỷ XX. Hiếm có cuộc đấu tranh của dân tộc nào lại quy tụ được sự ủng hộ rộng khắp, mạnh mẽ cả ở trong và ngoài nước như dân tộc Việt Nam nên kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi nhờ quy tụ sức mạnh đoàn kết của nhiều tầng mặt trận: mặt trận đoàn kết trong nước, mặt trận đoàn kết chiến đấu với các nước Đông Dương, mặt trận đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, mặt trận đoàn kết với nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, trong đó đặc biệt là nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ.
Sự viện trợ và ủng hộ to lớn, hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc và bạn bè quốc tế về vật chất nói chung, về vũ khí và khí tài hiện đại nói riêng đã góp phần quan trọng vào chiến thắng quân sự, chính trị và ngoại giao. Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ hơn sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, vạch trần tội ác xâm lược của kẻ thù, để thức tỉnh lương tri nhân loại tiến bộ. Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống thực dân, đé quốc xâm lược, hàng triệu người yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới từ những nhà lãnh đạo, chính khách đến người dân, sinh viên, kể cả ở các nước gây chiến đã xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta. Cùng với những thắng lợi quân sự trên chiến trường, ngoại giao thời kỳ này đã phát huy trí tuệ, bản lĩnh để ghi những mốc son trong lịch sử dân tộc với các Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 và Hiệp định Pa-ri năm 1973, tạo điều kiện thuận lợi đưa dân tộc ta đi đến chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
… đến đối ngoại đóng vai trò trọng yếu, thường xuyên; tự lực, tự cường; đóng góp có trách nhiệm trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc
Non sông thống nhất, đất nước bước vào thời kỳ hoà bình xây dựng và phát triển đất nước, nhiệm vụ đối ngoại của Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: bảo vệ hòa bình, ổn định và tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt từ công cuộc đổi mới năm 1986, tư duy đối ngoại của Việt Nam có bước chuyển biến căn bản. Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia có thể chế chính trị khác nhau, hợp tác, bình đẳng cùng có lợi trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia và luật pháp quốc tế. Đối ngoại Việt Nam không chỉ là bảo vệ hòa bình, chủ quyền quốc gia dân tộc như giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà còn chủ động và tích cực tham gia kiến tạo và phát triển cộng đồng thế giới văn minh, thịnh vượng. Trong 40 năm đổi mới, ngoại giao có nhiều đóng góp thiết thực vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một đất nước lạc hậu, bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, đến nay, Việt Nam nằm trong tốp 35 nền kinh tế hàng đầu về quy mô GDP, tốp 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Từ một nước bị bao vây, cô lập, Việt Nam nay đã có quan hệ ngoại giao với 194 nước, thiết lập được mạng lưới 34 nước có quan hệ đối tác toàn diện trở lên, trong đó có đầy đủ các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ các thành viên G7, 18/20 nền kinh tế G20, tất cả các nước ASEAN.
Nhiệm kỳ Đại hội XIV xác định dân tộc bước vào kỷ nguyên mới với 12 định hướng lớn, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, nhằm thực hiện “cam chính trị - lịch sử” của Đảng trước nhân dân và cộng đồng quốc tế về hiện thực hoá mục tiêu chiến lược 100 năm. Đại hội XIV diễn ra trong bối cảnh “thế giới đang đang chứng kiến những chuyển dịch nhanh, cường độ mạnh, tác động sâu rộng, mang tính thời đại. Các xu hướng vận động đan xen, trái chiều nhau, vừa gắn kết, phụ thuộc lẫn nhau sâu hơn nhưng cũng vừa chia rẽ, cạnh tranh mạnh hơn. Nhân loại bước vào một giai đoạn tiềm ẩn những rủi ro nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội phát triển mới. Không một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay đang phát triển, có thể đứng ngoài sự vận động của thời cuộc…..”. Khi thế giới bước vào giai đoạn cạnh tranh chiến lược gay gắt, xung đột cục bộ gia tăng, chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy thì vai trò của đối ngoại trở nên sống còn:
Một là, xác định công tác đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. thế giới đang diễn biến nhanh chóng với nhiều vấn đề mới chưa có tiền lệ, đòi hỏi phản ứng tích hợp và đồng bộ từ các quốc gia, điều này yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao, quốc phòng và an ninh, nhằm đảm bảo các chính sách được triển khai kịp thời, hiệu quả và phù hợp với bối cảnh quốc tế. Đại hội đã nâng tầm đối ngoại, không chỉ đóng vai trò “giữ hòa bình”, mà chủ động kiến tạo môi trường phát triển; không chỉ “bảo vệ lợi ích”, mà còn mở đường cho tăng trưởng; không chỉ là “mặt trận ngoại giao”, mà cần thiết trở thành một động lực phát triển quốc gia. Đồng thời, mỗi quyết sách đối ngoại hiện nay phải phối hợp chặt chẽ và thường xuyên với lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả. Việc nâng tầm đối ngoại Việt Nam trở nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên đã phản ánh sự thay đổi căn bản trong tư duy chiến lược của Đảng và Nhà nước trước yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới.
Hai là, Văn kiện Đại hội XIV đã bổ sung nội hàm “tự cường” trong phương châm đối ngoại, xác định rõ đường lối độc lập, tự chủ, tự cường; hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Tiếp thu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, Đảng đề cao đối ngoại tự cường có nghĩa là đối ngoại không phụ thuộc vào sự giúp đỡ từ bên ngoài nhưng luôn tranh thủ thuận lợi của quốc tế tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa đất nước phát triển, kết hợp hài hoà sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong đó, sức mạnh nội sinh đóng vai trò quyết định. Ngoại giao phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng nền kinh tế tự chủ, quốc phòng - an ninh vững mạnh, từ đó tạo nền tảng cho đối ngoại vững vàng trước tình hình thế giới ngày càng biến động.
Ba là, Đại hội nhấn mạnh đối ngoại phát triển tương xứng với tầm vóc lịch sử và văn hóa, vị thế chính trị và kinh tế của đất nước. Sau 40 năm đổi mới, chưa bao giờ đất nước có cơ đồ, vị thế và tiềm lực như ngày hôm nay. Tiềm lực và uy tín đất nước không chỉ nằm ở sức mạnh vật chất, không chỉ thể hiện thông qua kết quả phát triển kinh tế - xã hội của 40 năm đổi mới mang lại mà còn là “sức mạnh mềm”, ứng xử ngoại giao khéo léo của Việt Nam trên trường quốc tế và nỗ lực đóng góp của Việt Nam trong giải quyết những vấn đề chung của quốc tế và khu vực. “Sức mạnh mềm” đúc kết từ truyền thống lịch sử hào hùng, nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tình thần hoà hiếu nhân văn, yêu chuộng hoà bình và yêu thương con người của dân tộc Việt Nam. Ở tầm cao mới, đối ngoại phải góp phần gia tăng vị thế, ảnh hưởng của đất nước trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại. Nhận thức rõ hơn về văn hoá đối ngoại và hội nhập quốc tế về văn hoá, xác định đây là yêu cầu tất yếu khách quan và cấp thiết; nhận thức đầy đủ hơn những cơ hội, thách thức, những mặt tích cực và những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế về văn hoá. Coi hội nhập quốc tế về văn hoá là cơ hội để truyền bá văn hoá Việt Nam ra thế giới, tăng cường “sức mạnh mềm” của quốc gia.
Bốn là, đối ngoại bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi…tham gia chủ động, có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế”. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc là nguyên tắc tối thượng, quan điểm xuyên suốt trong đường lối đối ngoại và phát triển của Việt Nam, đặt độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và sự vững mạnh của chế độ lên trên hết. Đây là kim chỉ nam giúp Việt Nam chủ động, sáng tạo ứng phó với diễn biến thế giới phức tạp, hài hòa lợi ích quốc gia với đối tác. Việt Nam ngày càng xác định vai trò quan trọng của luật pháp quốc tế trong việc điều chỉnh hành vi của quốc gia trên bình diện quốc tế, khẳng định Việt Nam vẫn luôn lựa chọn công cụ pháp lý để bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia, dân tộc trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến khó lường, luật pháp quốc tế đứng trước những thách thức lớn như hiện nay. Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi mà luôn thúc đẩy hợp tác giữa các nước, thể hiện vai trò là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, tích cực kiến tạo hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Thứ trưởng Phạm Thế Tùng và Đoàn đại biểu Bộ Công an làm việc với Phái bộ MINUSCA tại Cộng hòa Trung Phi (15-16/4/2026), khẳng định Việt Nam là thành viên đóng góp tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế
Quá trình phát triển của đường lối đối ngoại Việt Nam từ đấu tranh đòi hòa bình quốc gia đến kiến tạo hòa bình thế giới phản ánh sự trưởng thành của tư duy chiến lược và vị thế quốc tế của Việt Nam. Các dấu mốc như Hiệp định Giơnevơ năm 1954 và Hiệp định Pari năm 1973 cho thấy sự kiên định của Việt Nam trong mục tiêu hòa bình gắn với độc lập dân tộc. Trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống ngoại giao hòa bình, đồng thời chủ động đóng góp vào việc duy trì hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới. Định hướng đối ngoại tại Đại hội XIV đã khẳng định tầm nhìn chiến lược của Việt Nam trong việc xây dựng một môi trường quốc tế hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Từ một dân tộc phải đấu tranh để giành hòa bình, Việt Nam ngày nay đang từng bước trở thành một quốc gia tích cực tham gia kiến tạo hòa bình cho khu vực và thế giới.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.
2. Đặng Đình Quý, Chủ nghĩa đa phương trên thế giới và ngoại giao đa phương của Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia sự thật, H.2022
3. Nguyễn Phú Trọng, Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, H.2023.
Trung tá Lê Mai Trang - Khoa Lịch sử Đảng và TTHCM