Lý luận chính trị
Thứ Hai, 8/6/2026 15:47'(GMT+7)

GẦN DÂN - HÀNH ĐỘNG ĐỂ HIỆN THỰC HÓA SỨ MỆNH “VÌ NHÂN DÂN PHỤC VỤ” CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

Bài viết phân tích nội hàm của thành tố “Gần dân nhất” trong phong trào thi đua “Ba nhất” do Bộ Công an phát động; làm rõ tính chính trị, giá trị nhân văn và thực tiễn việc “gần dân” của lực lượng Công an nhân dân. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp tiếp tục tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Công an nhân dân với nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

1. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” là một giá trị bền vững, xuyên suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Ngay từ trong truyền thống chính trị - văn hóa, ông cha ta đã sớm nhận thức về vai trò của nhân dân đối với sự tồn vong của quốc gia, thể hiện qua những tư tưởng như: “Quốc dĩ dân vi bản”; “ý dân là ý trời”; “chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”[1]; “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”[2]... Thực tế lịch sử đã chứng minh, mọi triều đại hưng thịnh đều gắn liền với việc gần dân, dựa vào dân, chăm lo đời sống và quy tụ được lòng dân; ngược lại, mọi sự suy vong đều bắt nguồn từ việc xa dân, để mất niềm tin ở dân. Truyền thống ấy đã kết tinh thành một chân lý mang tính lịch sử - chính trị của dân tộc Việt Nam: dân là gốc của nước, là nền tảng của mọi sức mạnh.

Kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhất quán quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm, coi nhân dân là chủ thể, là mục tiêu, là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội đều khẳng định, mọi hoạt động của hệ thống chính trị phải hướng tới phục vụ người dân, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, lấy sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm thước đo hiệu quả công việc. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã trở thành hành động cách mạng của Đảng, qua đó xác lập một cách rõ ràng về vị thế chủ thể quyền lực nhà nước, trung tâm của mọi chính sách phát triển - chính là nhân dân. Điều đó không chỉ mang ý nghĩa định hướng chính trị, mà còn là nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị và các lực lượng vũ trang.

Kế thừa liên tục truyền thống văn hóa của dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm nhất quán của Đảng, tư tưởng “gần dân để phục vụ nhân dân” được hình thành và phát triển qua từng thời kỳ, giai đoạn và ngày càng hoàn thiện. Lực lượng Công an nhân dân ý thức sâu sắc về sứ mệnh của mình: “Thức cho dân ngủ, gác cho dân vui chơi, lấy niềm vui và hạnh phúc của nhân dân là lẽ sống của mình”[3]; sẵn sàng “vì nước, vì dân, quên thân phục vụ”. Bởi, “Công an nhân dân từ dân mà ra, vì dân mà phục vụ và dựa vào dân mà làm việc”[4], do đó “gần dân” không chỉ là yêu cầu về phương pháp công tác hay phong cách ứng xử trong thực thi nhiệm vụ, mà là biểu hiện tập trung của bản chất cách mạng, tính nhân dân, nhân văn sâu sắc của lực lượng Công an nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, sức mạnh, uy tín và giá trị của Công an nhân dân không quyết định bởi quyền lực hành chính hay các biện pháp nghiệp vụ thuần túy, mà được khẳng định trước hết bởi niềm tin, sự ủng hộ và mức độ hài lòng của nhân dân. Đồng thời, chỉ khi gắn bó mật thiết với nhân dân, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn đời sống xã hội, lực lượng Công an nhân dân mới có thể triển khai các chủ trương, biện pháp công tác phù hợp, hiệu quả và bền vững, tránh được tình trạng xa rời thực tiễn hoặc hành chính hóa trong hoạt động bảo vệ an ninh, trật tự. Điều đó đòi hỏi lực lượng Công an nhân dân phải thực sự gần dân để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giúp đỡ, phục vụ nhân dân được tốt nhất.

2. Xuất phát từ những yêu cầu mang tính bản chất và phương châm hành động cách mạng đó, phong trào thi đua “Ba nhất” do Bộ Công an phát động đã ra đời như một bước cụ thể hóa quan trọng, nhằm chuyển hóa tư tưởng “vì nhân dân phục vụ” thành hệ thống tiêu chí hành động rõ ràng, có khả năng kiểm chứng trong thực tiễn. Trong ba trụ cột “Kỷ luật nhất - Trung thành nhất - Gần dân nhất”, thành tố “Gần dân nhất” giữ vai trò trực tiếp hiện thực hóa bản chất cách mạng, tinh thần dân chủ và mục tiêu tối thượng của lực lượng Công an nhân dân là phục vụ nhân dân trong tình hình mới. Việc xác định và phân tích sâu sắc nội hàm của thành tố “Gần dân nhất” có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ cách thức hiện thực hóa tư tưởng lấy dân làm gốc, tinh thần dân chủ và sứ mệnh phục vụ nhân dân của lực lượng Công an nhân dân. Đây là cơ sở để tổ chức thực hiện thống nhất trong toàn lực lượng. Cụ thể là:

Thứ nhất, “dân là gốc”, là trung tâm, chủ thể trong mọi chủ trương, chính sách, công tác bảo vệ an ninh, trật tự. Thước đo cao nhất mọi mặt công tác bảo vệ an ninh, trật tự là hạnh phúc và bình yên của người dân.

Nội hàm này xác lập nền tảng tư tưởng của thành tố “Gần dân nhất”. Việc coi dân là “gốc”, là trung tâm và chủ thể trong mọi chủ trương, chính sách, công tác bảo vệ an ninh, trật tự không chỉ mang ý nghĩa chính trị - tư tưởng, mà còn là nguyên tắc phương pháp luận trong tổ chức và triển khai mọi hoạt động của công tác công an. Trong bảo vệ an ninh, trật tự, mọi chủ trương, biện pháp nếu không hướng tới bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân thì đều không đạt được giá trị bền vững. Do đó, “gần dân” trước hết là sự chuyển hóa quan điểm “lấy dân làm trung tâm” thành tiêu chí đánh giá thực chất hiệu quả công tác công an, vượt lên trên các chỉ số hình thức hay thành tích đơn lẻ.

Thứ hai, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; tạo điều kiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ, hưởng thụ quyền lợi trong một xã hội tiến bộ và công bằng, văn minh và hạnh phúc; dựa vào nhân dân để xây dựng lực lượng Công an thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh”.

Nội hàm này làm rõ mối quan hệ hai chiều giữa lực lượng Công an nhân dân và nhân dân. Gần dân không chỉ là phục vụ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, mà còn là dựa vào nhân dân để xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ quyền con người, quyền công dân chính là biểu hiện cụ thể của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực bảo vệ an ninh, trật tự. Đồng thời, thông qua sự tin tưởng, ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân, lực lượng Công an nhân dân mới có thể tự hoàn thiện, giữ vững sự trong sạch, vững mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động. Tư tưởng “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh” vì thế trở thành chuẩn mực hành động xuyên suốt của thành tố “Gần dân nhất”.

Thứ ba, kính trọng, lễ phép, khiêm tốn, thật thà đối với nhân dân, tin vào dân, gần gũi với dân, hòa với dân thành một khối, thương dân, yêu dân; nêu cao tinh thần trách nhiệm, tuân thủ chuẩn mực đạo đức công vụ, tận tâm, tận lực, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, tuyệt đối không đùn đẩy, né tránh, không sách nhiễu, gây phiền hà.

Nội hàm này tiếp cận “gần dân” từ phương diện đạo đức công vụ và văn hóa ứng xử. Gần dân không thể tồn tại nếu thiếu sự kính trọng, lễ phép và thái độ chân thành đối với nhân dân. Trong thực tiễn, chính phong cách, thái độ và hành vi cụ thể của cán bộ, chiến sĩ khi tiếp xúc, giải quyết công việc cho nhân dân là yếu tố trực tiếp hình thành niềm tin xã hội. Việc tuyệt đối tránh đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không sách nhiễu, gây phiền hà không chỉ là yêu cầu kỷ luật, mà còn là thước đo đạo đức và mức độ “gần dân” của người cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân.

Thứ tư, mỗi cán bộ, chiến sĩ, nhất là lãnh đạo, chỉ huy phải luôn lấy mục tiêu chăm lo lợi ích cho nhân dân, làm lợi cho nhân dân là mục tiêu lớn nhất trong công việc của mình; chủ động hướng dẫn nhân dân học tập, lao động, sản xuất, xây dựng đời sống hạnh phúc, giàu mạnh và phát triển.

Nội hàm này nhấn mạnh vai trò nêu gương và trách nhiệm chính trị của đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy trong việc thực hiện thành tố “Gần dân nhất”. Gần dân không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ trực tiếp làm công tác cơ sở, mà phải trở thành định hướng xuyên suốt trong tư duy lãnh đạo và quản lý. Khi người đứng đầu thực sự đặt lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, thì các quyết sách, biện pháp công tác sẽ mang tính nhân văn, thiết thực và nhận được sự đồng thuận xã hội. Đồng thời, việc chủ động hướng dẫn, hỗ trợ nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội thể hiện vai trò tích cực của lực lượng Công an nhân dân trong xây dựng đời sống an toàn, ổn định và phát triển bền vững.

Thứ năm, thực hiện hiệu quả phương châm “lúc dân cần, lúc dân khó có Công an”. Đi đầu giúp dân, cứu dân trong những lúc hiểm nguy, gian khó; tiên phong trong hoạt động đền ơn, đáp nghĩa với những người có công với cách mạng, với đất nước, quê hương.

Nội hàm này thể hiện rõ “gần dân” trong những thời điểm thử thách nhất. Hình ảnh người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân xuất hiện kịp thời khi nhân dân gặp khó khăn, hoạn nạn không chỉ mang ý nghĩa nhân đạo, mà còn có giá trị chính trị - xã hội sâu sắc, củng cố niềm tin và tình cảm của nhân dân đối với lực lượng Công an nhân dân. Việc đi đầu trong cứu nạn, cứu hộ, hỗ trợ thiên tai, dịch bệnh và thực hiện công tác đền ơn, đáp nghĩa chính là biểu hiện sinh động của bản chất “vì nhân dân phục vụ”, góp phần bồi đắp mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Công an và nhân dân.

Thứ sáu, thường xuyên lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng, nhất là những vấn đề bức xúc của nhân dân; giải quyết rốt ráo những yêu cầu, vấn đề Nhân dân bức xúc chính đáng và đúng pháp luật; biết học hỏi quần chúng nhân dân, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ.

Nội hàm này khẳng định “gần dân” là một quá trình tương tác hai chiều. Lắng nghe nhân dân không chỉ để giải quyết công việc cụ thể, mà còn là phương thức quan trọng để lực lượng Công an nhân dân tự điều chỉnh, hoàn thiện mình. Việc giải quyết rốt ráo các vấn đề bức xúc chính đáng giúp củng cố niềm tin, hạn chế mâu thuẫn xã hội và phòng ngừa nguy cơ mất ổn định. Đồng thời, tinh thần cầu thị, học hỏi từ nhân dân chính là biểu hiện của thái độ tôn trọng nhân dân và bản lĩnh chính trị vững vàng của lực lượng Công an nhân dân.

Thứ bảy, thực hiện tốt tinh thần dân chủ, công khai, minh bạch, cởi mở để người dân tin tưởng bày tỏ tâm tư, nguyện vọng.

Nội hàm này nhấn mạnh điều kiện bảo đảm để “gần dân” trở thành thực chất và bền vững. Dân chủ, công khai, minh bạch không chỉ là yêu cầu của nhà nước pháp quyền, mà còn là nền tảng để xây dựng niềm tin giữa Công an và nhân dân. Khi người dân được tôn trọng, được cung cấp thông tin đầy đủ và có cơ hội tham gia, giám sát, phản biện, thì mối quan hệ giữa lực lượng Công an nhân dân và nhân dân sẽ ngày càng gắn bó, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Hình ảnh người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân gần dân được thể hiện không chỉ trong khi thi hành công vụ, mà còn trong sinh hoạt đời thường. Sự giản dị, khiêm tốn, tôn trọng và ứng xử văn hóa với nhân dân chính là những yếu tố góp phần tạo dựng niềm tin và uy tín xã hội của lực lượng.

3. Từ việc phân tích nội hàm của thành tố “Gần dân nhất” có thể khẳng định rằng, gần dân không phải là một yêu cầu mang tính đạo đức hay phong trào vận động ngắn hạn, mà là một hệ thống hành động có cấu trúc rõ ràng, gắn chặt giữa tư duy chính trị, cơ chế tổ chức và thực tiễn công tác. Thời gian tới, để hiện thực hóa sứ mệnh “Gần dân nhất”, dưới góc độ nghiên cứu, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, hiện thực hóa quan điểm “dân là gốc” bằng việc lấy hạnh phúc, sự bình yên và cảm nhận an toàn của nhân dân làm thước đo cao nhất của hiệu quả công tác công an. Điều này đòi hỏi sự chuyển dịch căn bản trong tư duy đánh giá kết quả công tác, từ chỗ nặng về chỉ tiêu nội bộ sang coi trọng các chỉ số phản ánh trực tiếp mức độ hài lòng, tin tưởng của nhân dân. Khi “dân là gốc” trở thành tiêu chí đánh giá thực chất, thì mọi hoạt động bảo vệ an ninh, trật tự sẽ tự giác hướng về mục tiêu phục vụ nhân dân, hạn chế tư duy hình thức và chạy theo thành tích.

Hai là, cụ thể hóa trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân như một nội dung cấu thành của nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự. Lực lượng Công an nhân dân phải thực thi pháp luật trên nền tảng thượng tôn pháp luật gắn liền với bảo vệ quyền con người, quyền công dân; đồng thời, mở rộng các cơ chế để nhân dân tham gia giám sát, phản biện và góp ý xây dựng lực lượng. Chính trong quá trình đó, nhân dân không chỉ là đối tượng được phục vụ, mà còn là chủ thể đồng hành, tạo nguồn sức mạnh xã hội để xây dựng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Ba là, xây dựng văn hóa công vụ gần dân thông qua việc chuẩn hóa và thực thi nghiêm các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân. Sự kính trọng, lễ phép, khiêm tốn, thật thà và tinh thần tận tâm phục vụ phải được thể hiện nhất quán trong mọi tiếp xúc, giải quyết công việc cho nhân dân. Việc kiên quyết loại bỏ các biểu hiện đùn đẩy trách nhiệm, né tránh nhiệm vụ, sách nhiễu, gây phiền hà không chỉ nhằm giữ gìn kỷ cương, mà còn là điều kiện trực tiếp để củng cố niềm tin xã hội đối với lực lượng Công an nhân dân.

Bốn là, gắn trách nhiệm gần dân với vai trò nêu gương và định hướng của đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Gần dân phải trở thành tiêu chí xuyên suốt trong tư duy lãnh đạo, từ xây dựng chủ trương, ban hành chính sách đến tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát. Khi người đứng đầu thực sự lấy việc chăm lo lợi ích cho nhân dân, làm lợi cho nhân dân làm mục tiêu lớn nhất trong công việc, thì tinh thần gần dân sẽ được lan tỏa thành chuẩn mực tổ chức, tránh được tình trạng hình thức, đối phó trong triển khai phong trào.

Năm là, hiện thực hóa phương châm “lúc dân cần, lúc dân khó có Công an” bằng việc xây dựng cơ chế sẵn sàng, chủ động trong hỗ trợ nhân dân trước, trong và sau các tình huống khẩn cấp. Lực lượng Công an nhân dân không chỉ cần phản ứng nhanh khi sự cố xảy ra, mà còn phải chủ động dự báo, phòng ngừa, chuẩn bị các phương án giúp dân, cứu dân trong thiên tai, dịch bệnh, tai nạn, sự cố xã hội. Việc đi đầu trong những thời điểm gian khó chính là phép thử sinh động nhất đối với bản chất “vì nhân dân phục vụ” của lực lượng.

Sáu là, thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế lắng nghe, đối thoại và phản hồi ý kiến của nhân dân, coi đây là một kênh quan trọng để tự điều chỉnh và hoàn thiện hoạt động công an. Việc giải quyết rốt ráo, đúng pháp luật những vấn đề nhân dân bức xúc chính đáng không chỉ góp phần ổn định xã hội, mà còn giúp lực lượng Công an nhân dân kịp thời nhận diện hạn chế, khuyết điểm trong công tác, từ đó chủ động sửa chữa, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân.

Bảy là, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch như điều kiện nền tảng để “gần dân” trở thành thực chất và bền vững. Công khai quy trình, thủ tục, trách nhiệm và kết quả giải quyết công việc không chỉ là yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, mà còn là phương thức tạo dựng niềm tin, khuyến khích nhân dân tham gia giám sát và đồng hành cùng lực lượng Công an nhân dân. Chính sự đồng hành đó là cơ sở xã hội vững chắc để hiện thực hóa lâu dài sứ mệnh phục vụ nhân dân của lực lượng Công an nhân dân trong tình hình mới.

Bảy nội hàm của thành tố “Gần dân nhất” trong phong trào thi đua “Ba nhất” là một chỉnh thể thống nhất, phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an. Việc thực hiện nghiêm túc và hiệu quả các nội hàm này sẽ tạo ra một luồng sinh khí mới trong toàn lực lượng, làm cho Công an nhân dân thực sự là người bạn của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, ba thành tố của phong trào “Ba nhất” vì thế có mối quan hệ hữu cơ: không có kỷ luật thì trung thành dễ bị hình thức; không có trung thành thì kỷ luật mất phương hướng; và nếu không gần dân thì cả kỷ luật và trung thành đều không thể chuyển hóa thành sức mạnh thực tiễn. Thông qua việc cụ thể hóa từng nội hàm và chuyển hóa thành hành động nhất quán, phong trào thi đua “Ba nhất” góp phần định hình chuẩn mực chính trị, đạo đức và nghề nghiệp của lực lượng Công an nhân dân, qua đó khẳng định bản chất cách mạng, nhân văn và sứ mệnh “vì nhân dân phục vụ” - giá trị cốt lõi, xuyên suốt và bền vững của lực lượng Công an nhân dân trong mọi giai đoạn cách mạng./.

NGUYỄN YẾN THANH

Đại tá, TS, Trưởng khoa, Học viện Chính trị Công an nhân dân.

Nguồn Tạp chí CAND

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2021), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  2. Bộ Công an (2024), Xây dựng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  3. Bộ Công an (2025), Phát động phong trào thi đua “Ba nhất” trong Công an nhân dân, Hà Nội.
  4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2023), Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  6. Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập, các tập 5, 6, 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  7. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.


[1] Nguyễn Trãi: “Quan hải”, trong Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 441.

[2] Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê: Đại Việt sử ký toàn thư (Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch), t. 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 77.

[3] Lê Duẩn: “Bài nói tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 34 (tháng 3-1979)”, in trong Về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2002.

[4] Hồ Chí Minh: “Thư gửi đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an Khu XII”, trong Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 498.

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất