Nghiên cứu Quốc tế
Thứ Hai, 24/8/2026 18:53'(GMT+7)

KỲ 3: QUỐC PHÒNG - AN NINH VÀ KẾT NỐI KINH TẾ: HAI TRỤ CỘT ĐỘT PHÁ

Kỳ 2 đã khép lại bằng một câu hỏi còn bỏ ngỏ: liệu lòng tin chiến lược ở tầm cao nhất giữa hai Đảng, hai Nhà nước có thể được chuyển hóa thành những đột phá thực chất trên các lĩnh vực hợp tác cụ thể hay không? Câu trả lời nằm ở chính hai trụ cột sẽ được phân tích trong kỳ này. Nếu cội nguồn lịch sử máu xương là “gốc rễ” và tin cậy chính trị cao độ là “linh hồn” điều hướng cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, thì Quốc phòng - An ninh và Kết nối Kinh tế chính là hai trụ cột thực tiễn vững chắc nhất, đóng vai trò như “động lực cốt lõi” thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững của cả hai dân tộc trong tình hình mới. Đây chính là nơi mà lòng tin trừu tượng ở cấp độ chính trị được đo đếm bằng những kết quả cụ thể, hữu hình.

Trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực gia tăng tính biến động và bão hòa rủi ro phi truyền thống, việc thắt chặt hợp tác an ninh - quốc phòng cùng với sự bứt phá về liên kết hạ tầng kinh tế không chỉ mang ý nghĩa phát triển song phương, mà còn đóng vai trò then chốt đối với không gian sinh tồn và thế chiến lược của mỗi nước. Nếu không có một môi trường an ninh ổn định được bảo đảm bởi trụ cột thứ nhất, thì mọi nỗ lực kết nối kinh tế ở trụ cột thứ hai cũng khó lòng phát huy hiệu quả; và ngược lại, nếu không có sự thịnh vượng kinh tế làm nền tảng vật chất, thì hợp tác an ninh - quốc phòng cũng thiếu đi nguồn lực để duy trì bền vững lâu dài.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (người thứ 3 từ trái sang) và Hoàng thân Souphanouvong (người thứ tư từ trái sang) cùng các cán bộ quân đội Việt - Lào bàn kế hoạch mở chiến dịch Thượng Lào năm 1953.

1. Trụ cột Quốc phòng - An ninh: Bức tường thành chiến lược bảo vệ Tổ quốc hai nước từ xa

Trải qua nhiều thập kỷ, hợp tác Quốc phòng - An ninh giữa Việt Nam và Lào luôn được xác định là một trong những trụ cột quan trọng nhất, gắn liền trực tiếp với sự sinh tồn, độc lập và chủ quyền của hai quốc gia. Đây chính là sự tiếp nối tự nhiên của liên minh chiến đấu đã được khắc họa - nơi bộ đội Việt Nam và Lào từng sát cánh trên cùng chiến hào, cùng chia nhau hạt muối, cọng rau. Trong giai đoạn hiện nay, hợp tác trên lĩnh vực này đã chuyển từ thế trận liên minh chiến đấu quân sự sang thế trận an ninh toàn diện và chủ động ngăn ngừa rủi ro từ sớm, từ xa, một bước chuyển hóa tất yếu khi bối cảnh thời đại đã thay đổi, nhưng bản chất tin cậy chiến lược thì vẫn vẹn nguyên như những gì đã được phân tích.

Tác chiến phòng thủ và bảo vệ biên giới

Nếu như trong những năm tháng chiến tranh, dải biên thùy này từng là nơi diễn ra các chiến dịch quân sự khốc liệt như Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng hay Đường 9 - Nam Lào mà Kỳ 1 đã khắc họa, thì ngày nay, chính dải đất ấy lại trở thành nơi thể hiện sinh động nhất tinh thần hợp tác quốc phòng - an ninh kiểu mới: chủ động phòng ngừa, hợp tác cùng phát triển thay vì chỉ đơn thuần phòng thủ.

Đường biên giới đất liền Việt Nam - Lào dài hơn 2.300 km xuyên qua những địa hình hiểm trở bậc nhất Đông Dương, chính là dải đất từng là tuyến lửa Tây Trường Sơn cho đến biểu tượng của Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới. Thế trận an ninh nhân dân và quốc phòng toàn dân vùng biên giới đã được cụ thể hóa thông qua cơ chế phối hợp tuần tra chung, kết nghĩa giữa các lực lượng bảo vệ biên giới và chính quyền địa phương hai bên. Việc duy trì một đường biên giới hòa bình, ổn định không chỉ giúp ngăn chặn các nguy cơ xung đột, mà còn triệt phá từ gốc các hoạt động xâm nhập, âm mưu can thiệp hay chia rẽ mối quan hệ đoàn kết hai nước của các thế lực thù địch, những âm mưu luôn tìm cách khoét sâu vào bất kỳ mối quan hệ đặc biệt nào giữa các quốc gia có cùng chí hướng.

Đấu tranh với tội phạm xuyên quốc gia và an ninh phi truyền thống

Không gian biên giới rộng lớn, địa hình hiểm trở vốn từng là lợi thế chiến lược cho tuyến chi viện Trường Sơn trong chiến tranh, nay lại đặt ra thách thức không nhỏ trong công tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia thời bình. Chính vì vậy, cơ chế phối hợp giữa lực lượng chức năng hai nước không thể chỉ dừng lại ở cấp độ chuyên án đơn lẻ, mà đã được nâng lên thành các chương trình hợp tác thường xuyên, có tính hệ thống, bao gồm trao đổi thông tin tình báo, tổ chức diễn tập chung và xây dựng các đường dây nóng liên lạc trực tiếp giữa lực lượng biên phòng, công an hai bên nhằm xử lý kịp thời mọi tình huống phát sinh ngay từ giai đoạn manh nha.

Khu vực biên giới hai nước từng là điểm nóng của tội phạm ma túy, buôn lậu, tội phạm mua bán người và buôn bán vũ khí. Lực lượng Công an và Quân đội hai nước đã triển khai hàng loạt chuyên án chung, đấu tranh trực diện và bóc gỡ nhiều đường dây tội phạm xuyên quốc gia quy mô lớn, chính đây là sự cụ thể hóa ở cấp độ nghiệp vụ cho cơ chế phối hợp phòng chống tội phạm xuyên biên giới mà Kỳ 2 đã đề cập ở tầm chính trị. Đặc biệt, trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ thông tin, hợp tác an ninh mạng, phòng chống tội phạm công nghệ cao và lừa đảo trực tuyến xuyên biên giới đã trở thành một trọng tâm mới, bảo vệ không gian mạng và sự an toàn tài chính cho nhân dân hai nước. Đây là minh chứng cho thấy hợp tác an ninh Việt - Lào không đứng yên theo thời gian, mà luôn thay đổi để thích ứng với những thách thức mới của thời đại số.

Đào tạo nguồn nhân lực chiến lược

Nguồn nhân lực là cốt lõi của mọi chiến lược. Hằng năm, Việt Nam tiếp tục hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng hàng nghìn sĩ quan, cán bộ quản lý quốc phòng, an ninh cho Lào. Ngược lại, cán bộ Việt Nam cũng được cử sang học tập ngôn ngữ, văn hóa Lào. Sự thấu hiểu sâu sắc về tư duy chiến lược, ngôn ngữ và phương thức làm việc giữa lực lượng vũ trang hai nước chính là “chất keo” bảo đảm sự ăn khớp tuyệt đối trong mọi tình huống khẩn cấp. Có thể thấy, đây chính là công tác đào tạo nguồn nhân lực chiến lược mà hai nước đã từng thực hiện cho nhau trong những năm tháng kháng chiến chỉ khác là, thay vì huấn luyện chiến đấu trên chiến trường, ngày nay hai bên cùng nhau đào tạo bản lĩnh quản lý, tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ kế cận, tiếp nối đúng tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”.

Điều đáng ghi nhận là, công tác đào tạo này không chỉ mang tính một chiều theo hướng Việt Nam hỗ trợ Lào, mà ngày càng thể hiện rõ tính chất trao đổi hai chiều, học hỏi lẫn nhau. Nhiều cán bộ, chiến sĩ Việt Nam sau thời gian công tác, học tập tại Lào đã tiếp thu được những kinh nghiệm quý báu về công tác dân vận vùng cao, về mô hình quản lý an ninh cộng đồng phù hợp với địa bàn miền núi, những kinh nghiệm có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác bảo đảm an ninh trật tự tại chính các địa bàn biên giới, vùng sâu, vùng xa của Việt Nam. Đây chính là minh chứng cho thấy hợp tác quốc phòng - an ninh Việt - Lào đã vượt ra khỏi khuôn khổ hỗ trợ đơn thuần, để trở thành một mối quan hệ học hỏi, bổ sung lẫn nhau trên tinh thần bình đẳng đúng như bản chất tin cậy chính trị.

2. Kết nối kinh tế: Đột phá hạ tầng mở đường ra biển lớn

Khác với giai đoạn trước khi hợp tác kinh tế chủ yếu mang tính hỗ trợ, giúp đỡ, bước sang kỷ nguyên phát triển mới, hai nước đang hướng tới hợp tác kinh tế dựa trên nguyên tắc thị trường, bổ sung lợi thế cho nhau và cùng win-win. Đây chính là bước phát triển tất yếu của mối quan hệ đặc biệt: nếu như trong chiến tranh, sự hỗ trợ giữa hai dân tộc mang tính một chiều theo hướng Việt Nam sẻ chia gian khổ cùng Lào, thì trong thời bình, khi cả hai nền kinh tế đều đã có những bước phát triển nhất định, mối quan hệ ấy tất yếu phải chuyển sang hình thái hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, đúng như nguyên tắc tôn trọng độc lập, tự chủ của nhau mà tin cậy chính trị.

Giải bài toán “Đất liền hóa Hải đảo” cho Lào

Lào là quốc gia duy nhất tại Đông Nam Á không có đường bờ biển (landlocked country). Để bứt phá kinh tế, Lào có nhu cầu cấp thiết chuyển mình từ quốc gia “nằm sâu trong đất liền” thành trung tâm “kết nối đất liền” (land-linked). Việt Nam chính là cửa ngõ tự nhiên và ngắn nhất để Lào tiến ra đại dương, một vai trò mà Việt Nam đảm nhận không chỉ vì lợi ích kinh tế song phương, mà còn xuất phát từ chính tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình” đã ăn sâu vào tư duy đối ngoại của Việt Nam đối với Lào qua nhiều thế hệ.

Bài toán “đất liền hóa hải đảo” cho Lào, nhìn ở một góc độ sâu xa hơn, chính là hình ảnh phản chiếu ngược của chính bài toán mà hai dân tộc từng cùng nhau giải quyết trong chiến tranh. Nếu như trong quá khứ, Lào đã tự nguyện nhường đất, mở đường để Việt Nam có được hành lang chi viện chiến lược ra tiền tuyến miền Nam, thì ngày nay, đến lượt Việt Nam mở cửa ngõ biển của mình để giúp Lào giải bài toán không có đường bờ biển. Đây chính là một chu trình “cho - nhận” đầy tính biện chứng, nơi mỗi bên đều từng là người trao đi và người nhận lại, tạo nên một mối quan hệ cân bằng, bền vững theo đúng nghĩa cùng có lợi.

(1) Cảng biển Vũng Áng tại Hà Tĩnh. Việc Việt Nam dành cho Lào quyền sử dụng và hợp tác khai thác các cầu cảng tại Cảng quốc tế Lào - Việt là một quyết định mang tầm vóc chiến lược. Điều này giúp Lào sở hữu một “cửa ngõ ra biển” riêng, tối ưu hóa chi phí logistics và gia tăng năng lực cạnh tranh cho hàng hóa xuất nhập khẩu của Lào trên thị trường quốc tế.

(2) Hạ tầng giao thông chiến lược: các dự án hạ tầng quy mô lớn như tuyến đường cao tốc Vientiane - Hà Nội, tuyến đường sắt Vientiane - Vũng Áng đang được tích cực thúc đẩy. Khi hoàn thành, các tuyến huyết mạch này sẽ khép kín hành lang kinh tế Đông - Tây, kết nối không chỉ hai nước mà cả toàn bộ tiểu vùng sông Mê Công với thị trường toàn cầu, biến chính dải Trường Sơn từng là ranh giới tự nhiên chia cắt thành hành lang kết nối kinh tế xuyên suốt trong hiện tại. Quyết định dành cho Lào quyền khai thác cảng biển Vũng Áng không đơn thuần là một thỏa thuận thương mại thông thường, mà mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, tương tự như việc Lào từng nhường đất mở đường cho tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn trong quá khứ. Nếu như trước đây, không gian lãnh thổ Lào là điều kiện tiên quyết để Việt Nam giành thắng lợi trong công cuộc giải phóng dân tộc, thì ngày nay, không gian biển của Việt Nam lại trở thành điều kiện tiên quyết để Lào hiện thực hóa khát vọng vươn ra thị trường toàn cầu.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên và Bộ trưởng Bộ Công Thương Lào Malaithong Kommasith. Ảnh: Bộ Công Thương

(3) Thương mại, đầu tư và năng lượng. Việt Nam hiện duy trì vị thế là một trong những nhà đầu tư lớn nhất tại Lào với hàng trăm dự án thuộc các lĩnh vực hạ tầng, viễn thông (Unitel), ngân hàng, nông nghiệp công nghệ cao và khoáng sản. Hợp tác năng lượng, đặc biệt là mua bán điện từ các dự án thủy điện, điện gió của Lào về Việt Nam không chỉ giúp Lào hiện thực hóa mục tiêu trở thành “mô-tơ điện của Đông Nam Á”, mà còn góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cho Việt Nam trong giai đoạn tăng tốc công nghiệp hóa.

Ba mũi đột phá này không vận hành rời rạc, mà tạo thành một chuỗi giá trị khép kín: cảng biển là điểm đến, hạ tầng giao thông là phương tiện kết nối, còn dòng vốn đầu tư và thương mại song phương chính là động lực vận hành xuyên suốt cả chuỗi giá trị ấy.

Chính sự tin cậy chính trị cao độ giữa hai Đảng mới là điều kiện tiên quyết để những dự án hạ tầng chiến lược mang tầm vóc xuyên quốc gia như tuyến đường sắt Vientiane - Vũng Áng có thể được triển khai. Bởi lẽ, những dự án hạ tầng kết nối quy mô lớn như vậy đòi hỏi tầm nhìn dài hạn vượt qua một vài nhiệm kỳ chính trị, đòi hỏi sự cam kết bền vững mà chỉ có một nền tảng tin cậy chiến lược thực sự sâu sắc, được tôi luyện qua gần một thế kỷ như quan hệ Việt - Lào mới có thể bảo đảm.

Hợp tác kinh tế Việt - Lào trong giai đoạn hiện nay không tránh khỏi những thách thức mang tính khách quan, như sự chênh lệch về quy mô nền kinh tế, năng lực cạnh tranh và mức độ hội nhập quốc tế giữa hai nước. Tuy nhiên, chính nhờ nền tảng tin cậy chính trị vững chắc mà những khác biệt, chênh lệch ấy không trở thành rào cản, mà ngược lại được nhìn nhận như một cơ sở để bổ sung lợi thế cho nhau: Việt Nam có kinh nghiệm và nguồn lực về công nghiệp chế biến, công nghệ, hạ tầng logistics; trong khi Lào sở hữu tiềm năng to lớn về tài nguyên thiên nhiên, năng lượng tái tạo và diện tích đất đai cho phát triển nông nghiệp quy mô lớn. Sự bổ sung mang tính cơ cấu này chính là nền tảng bền vững nhất cho hợp tác kinh tế song phương trong dài hạn, thay vì chỉ dựa vào những ưu đãi mang tính tình thế.

Kết luận: Hai bờ vai sát cánh cùng gánh vác tương lai

Quốc phòng - An ninh giữ cho “nếp nhà” của hai dân tộc được bình yên, còn Kết nối Kinh tế tạo ra “nguồn nhựa sống” để hai nền kinh tế cùng tăng trưởng phồn vinh. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa an ninh và phát triển chính là chìa khóa giúp quan hệ Việt - Lào thoát khỏi những lực hút ngoại biên, tạo nên thế tự chủ chiến lược cho cả hai quốc gia trong lòng một Đông Nam Á năng động và nhiều biến động.

Có thể khái quát rằng hai trụ cột Quốc phòng - An ninh và Kết nối kinh tế, tuy khác nhau về lĩnh vực và phương thức triển khai, nhưng đều tuân theo cùng một nguyên lý vận hành: lấy tin cậy chính trị làm điều kiện cần, lấy lợi ích chính đáng và bình đẳng của mỗi bên làm điều kiện đủ. Thiếu tin cậy chính trị, hợp tác quốc phòng - an ninh sẽ chỉ dừng lại ở mức độ hình thức, còn các dự án kết nối kinh tế quy mô lớn cũng khó lòng vượt qua giai đoạn khả thi để đi vào triển khai thực chất. Ngược lại, nếu tin cậy chính trị không được chuyển hóa thành lợi ích cụ thể, thiết thực cho cả hai bên, thì bản thân lòng tin ấy cũng khó lòng được duy trì bền vững qua nhiều thế hệ lãnh đạo kế tiếp. Chính sự vận hành song song, bổ trợ lẫn nhau giữa hai nguyên lý này mới là lời giải thích thấu đáo nhất cho câu hỏi vì sao quan hệ Việt - Lào có thể đồng thời vừa sâu sắc về mặt tình cảm, vừa hiệu quả về mặt thực tiễn.

Nhìn lại hành trình đã được khắc họa qua ba kỳ đầu của loạt bài, có thể thấy một mạch logic phát triển nhất quán: từ cội nguồn lịch sử được tôi luyện bằng máu xương trên tuyến lửa Tây Trường Sơn, đến tin cậy chính trị cao độ được thể chế hóa qua các cơ chế hợp tác giữa hai Đảng, hai Nhà nước, và nay là hai trụ cột thực tiễn Quốc phòng - An ninh và Kết nối kinh tế đã biến lòng tin chiến lược ấy thành những kết quả cụ thể, đo đếm được. Mỗi kỳ đều là một nấc thang phát triển tất yếu của kỳ trước, và tất cả cùng hội tụ về một điểm chung: một mối quan hệ đặc biệt không ngừng tự làm mới mình qua từng giai đoạn lịch sử, nhưng vẫn giữ vẹn nguyên bản chất thủy chung, trong sáng từ thuở ban đầu.

Thế nhưng, mọi nền tảng lịch sử, mọi cơ chế chính trị và mọi thành tựu hợp tác thực tiễn, dù vững chắc đến đâu, cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có người kế thừa. Câu hỏi tất yếu đặt ra ở cuối kỳ này là: thế hệ trẻ hai nước - những người sinh ra và lớn lên trong hòa bình, chưa từng trải qua bom đạn hay ký ức chiến tranh sẽ tiếp nhận và phát huy di sản đồ sộ ấy như thế nào trong kỷ nguyên số đầy biến động?

Nguyễn Đình Thiện

Nguyễn Thị Hoài Thu

 

KỲ CUỐI: THẾ HỆ TRẺ VÀ KHÁT VỌNG VƯƠN MÌNH CHUNG MỘT TƯƠNG LAI

Phản hồi
Các tin khác
Mới nhất